1. Trang Chủ
  2. ///

Nhà cung cấp NXB Tổng Hợp TPHCM

Tổng hợp sách của nhà cung cấp NXB Tổng Hợp TPHCM

Xem thêm đầy đủ hơn tại: https://tusach.vn/nha-cung-cap/nxb-tong-hop-tphcm

Vượt Côn Đảo (Tái Bản 2025)

Vượt Côn Đảo

Nhà văn Vũ Tú Nam trong bài Nhớ Phùng Quán, thay lời giới thiệu tập hồi ký Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào của Phùng Quán, đã viết: “Nhớ đến Phùng Quán, là nhớ đến bản thảo Vượt Côn Đảo đã gây ấn tượng tốt cho tôi, nhớ đến người bạn trẻ hai mươi tuổi...”.

Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của nhà văn Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954 và đã được nhiều người đọc hoan nghênh, đón nhận. Ngay sau đó Vượt Côn Đảo đã nhận giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955).

Sau hơn nửa thế kỷ, kể từ lần in đầu tiên đến nay, sách đã được tái bản nhiều lần và vẫn được bạn đọc nhiều thế hệ tìm đọc. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội, Vượt Côn Đảo đã được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Người lính trẻ hai mươi tuổi - Phùng Quán lúc đó, khi bắt tay vào viết Vượt Côn Đảo chưa một lần đặt chân đến chốn “địa ngục trần gian” ấy. Sau Hiệp định Genève 1954, đất nước tạm chia làm hai miền chờ ngày thống nhất. Được có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn, Phùng Quán gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo. Chính những câu chuyện của họ về những con người bất khuất và ý chí quật cường với hai lần vượt ngục thất bại là nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết nên bản anh hùng ca Vượt Côn Đảo. Ý chí sắt đá, lòng quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng qua ngòi bút tài hoa, bi tráng của Phùng Quán đã tái hiện lại bức tranh ác liệt của cuộc sống tù nhân bị đọa đày dưới sự cai trị của thực dân Pháp, đồng thời khắc họa chân dung những con người bình thường mà lớn lao, dù thân trong ngục tối nhưng tâm trí vẫn sáng ngời lý tưởng cách mạng.

Đọc Vượt Côn Đảo, thế hệ trẻ hôm nay không chỉ yêu mến, trân trọng hơn những con người phi thường đã hy sinh tuổi xuân và xương máu cho hòa bình của đất nước mà còn được tiếp thêm nghị lực vượt qua bản thân, vượt qua hoàn cảnh, kiên định với mục tiêu để đi đến thắng lợi và thành công, như lời nhắn gởi của Phùng Quán: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc. Không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”

Trích đoạn:

"Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu

mặt ngựa. Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương. Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác."

Bé Yêu Tổ Quốc

Bé Yêu Tổ Quốc

"Trên đời này, có những điều thiêng liêng chẳng cần phải chứng minh nhưng vẫn luôn âm thầm chảy trong huyết mạch. Với mình, một trong những điều thiêng liêng đó chính là lòng yêu nước.

Mình được dạy rằng, yêu nước là yêu tất cả những điều bình dị nhất đến từ quê hương, làng xóm. Tình yêu nhỏ bé ấy cùng mình lớn lên và có lẽ, từ bao giờ đã "hóa lớn lao" trở thành tình yêu nước vô bờ bến.

Trong nhịp sống hối hả ngày nay, mình biết, những người theo đuổi những giá trị xưa cũ như mình sẽ dần chẳng còn nhiều. Nhưng mình tin rằng, chỉ cần mỗi chúng ta còn một chút tình yêu nhen nhóm với thơ, văn Việt Nam thì có một ngày, những giá trị ấy sẽ trở lại và lớn dần lên và chẳng bao giờ biến mất.

Hy vọng rằng, "Bé yêu Tổ quốc" sẽ được đồng hành cùng ba mẹ trong những khoảnh khắc "gieo mầm" để cùng con nuôi dưỡng tình yêu với thơ, với Tiếng Việt và đặc biệt là với Đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta!"

Biển Đời Biển Học - Trải Nghiệm Và Suy Tư

Biển Đời Biển Học - Trải Nghiệm Và Suy Tư

Tính đến nay (2025) tôi đã định cư ở Úc gần 45 năm. Trong quãng thời gian đó, tôi đã sống và hít thở không khí của các trường đại học Úc và phương Tây hơn bốn thập niên. Trải qua những ngày đầu là một sinh viên bỡ ngỡ, vật lộn với tiếng Anh và văn hóa mới, đến những năm tháng làm giáo sư và lãnh đạo trong một cộng đồng khoa học, tôi tự hỏi trong thời gian đó mình đã học được gì và có thể chia sẻ gì với các bạn trẻ hơn. Cuốn sách này là một nỗ lực nhằm trả lời câu hỏi đó.

Tôi sẽ chia sẻ về hành trình học hành của tôi. Đó là một sự nhìn lại và chiêm nghiệm về giáo dục đại học và hoạt động khoa học cùng những suy tư về giáo dục đại học ở Việt Nam. Cuốn sách được chia thành ba phần. Phần đầu tiên theo chân hành trình cá nhân của tôi, từ những khó khăn ban đầu khi bước vào giảng đường đến những trải nghiệm tại các trường đại học Úc. Tôi bị “ấn tượng” bởi phong cách giảng dạy vừa thoải mái nhưng vô cùng hiệu quả của những người thầy tôi. Tôi kể về chặng đường học tiến sĩ của mình, những thử thách khi viết bài báo khoa học đầu tiên, và sự bất định trong nghiên cứu khoa học.

Trong phần thứ hai, tôi suy nghiệm hành trình học thuật của mình và chia sẻ những bài học và kinh nghiệm với bạn đọc. Tôi bàn về các khía cạnh quan trọng của đời sống học thuật như quy trình phản biện khoa học, kỹ năng viết bài nghiên cứu, tham gia hội nghị, và những vẫn đề đạo đức mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt. Tôi giới thiệu các phương pháp thực tiễn, như công thức IDEA trong viết văn khoa học và phương pháp MOLIA trong báo cáo nghiên cứu. Ngoài ra, tôi cũng phân tích những vấn đề sâu xa hơn, bao gồm tâm lý học thuật, tác động của chủ nghĩa cá nhân trong khoa học, và những cạm bẫy thường gặp trong nghiên cứu.

Phần thứ ba mở rộng thảo luận về giáo dục đại học tại Việt Nam, nơi tôi đã quay về với những đóng góp có ý nghĩa.

Tôi đặt ra những câu hỏi nền tảng: Sứ mệnh thực sự của một trường đại học là gì, tự do học thuật có ảnh hưởng như thế nào đến việc kiến tạo tri thức mới, xếp hạng đại học có ý nghĩa ra sao đối với Việt Nam. Tôi phân tích cấu trúc đào tạo tiến sĩ, những thách thức trong quá trình chuyển đổi từ nghiên cứu sinh thành nhà khoa học độc lập, và những hiểu lầm phổ biến về danh hiệu “giáo sư”. Phần này kết thúc bằng những để xuất cải cách trong quá trình bổ nhiệm giáo sư, nhằm đưa ra những góc nhìn về cách mà hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có thể phát triển để đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Cuốn sách này không phải là một hồi ức theo nghĩa truyền thống. Một số nội dung trong sách đã được viết lại từ những bài đã đăng trên các diễn đàn báo chí như Tuổi Trẻ cuối tuần và mục Góc nhìn (VnExpress), và theo tôi biết, đã thu hút chú ý của bạn đọc. Tôi muốn xem đó là những suy nghĩ và khám phá về thế giới học thuật. Cuốn sách được viết dành cho sinh viên đang tìm kiếm định hướng, cho giảng viên đang trăn trở về vai trò của mình, và cho các nhà hoạch định chánh sách đang xây dựng tương lai cho các trường đại học. Bằng cách chia sẻ những trải nghiệm và phân tích của mình, tôi hy vọng có thể đóng góp vào cuộc đối thoại về vai trò của giáo dục đại học trong việc tạo ra tri thức, thúc đẩy tiến bộ xã hội và khai phá những chân trời mới trong khoa học tại Việt Nam.

Khi bạn đọc những trang sách này, tôi hy vọng bạn sẽ tìm thấy điều gì đó có giá trị, dù là một bài học để áp dụng trong việc học của chính mình, một góc nhìn để hướng dẫn nghiên cứu hay giảng dạy, hay một tầm nhìn để truyền cảm hứng cho công tác quản lý, lãnh đạo của bạn. Nhưng hơn thế nữa, tôi hy vọng bạn sẽ được nhắc nhở về tầm quan trọng của giáo dục đại học, không chỉ như một phương tiện để đạt được mục tiêu mà còn là một mục tiêu tự thân. Bởi cuối cùng, chính thông qua giáo dục, chúng ta khám phá ra mình là ai, chúng ta coi trọng điều gì, và chúng ta có thể đóng góp gì cho thế giới. Đây là hành trình của tôi, nhưng cũng là hành trình của bạn. Hãy cùng nhau bước đi.

Nguyễn Văn Tuấn

30/4/2025

Lược Khảo Về Khoa Cử Việt Nam

Lược Khảo Về Khoa Cử Việt Nam

"Kỳ thực ra, chính [khoa cử] đó là cái cơ quan nung đúc nhân tài của xứ mình, trong khoảng mấy trăm năm. Biết bao nhiêu danh nhân, phần nhiều đều ở đó mà ra: văn nhân mặc sĩ cũng có, danh thần lương tướng cũng có, đầy rẫy trong sử sách, ít người là không do khoa mục. Vấn đề khoa cử là một thiên trọng yếu cần thiết trong văn học sử cùng văn hóa sử nước nhà."

- Lược khảo về khoa cử Việt Nam - Trần Văn Giáp -

Cách Mạng Tháng Tám 1945 - Thắng Lợi Vĩ Đại Đầu Tiên Của Dân Tộc Việt Nam Trong Thế Kỷ Xx

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước và nước ngoài về Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tuy nhiên, với tầm vóc, ý nghĩa to lớn, ảnh hưởng lan tỏa sâu rộng và giá trị lâu bền, Cách mạng tháng Tám vẫn còn chứa đựng nhiều sự kiện cần được tái hiện, nhiều vấn đề lịch sử cần được luận giải thấu đáo, nhiều kinh nghiệm lịch sử cần được đúc kết và vận dụng cho hiện tại và tương lai.

Từ những nhận thức trên đây, nhóm tác giả biên soạn tác phẩm Cách mạng tháng Tám 1945 - thắng lợi vĩ đại đầu tiên của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX để phản ánh và làm sáng rõ hơn một số vấn đề lịch sử trong toàn bộ tiến trình vận động Cách mạng tháng Tám khởi đầu bằng thời điểm cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra (tháng 9-1939), Đảng Cộng sản Đông Dương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng trước tiên, huy động tối đa sức mạnh dân tộc chuẩn bị lực lượng mọi mặt và chớp thời cơ tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đến ngày 2-9-1945.      

Ngu Phap Tieng Anh Ung Dung Trong Ky Nang Viet - English Grammar In Use For ESL Writing (Tai Ban 2024)

Ngữ Pháp Tiếng Anh Ứng Dụng Trong Kỹ Năng Viết - English Grammar In Use For ESL Writing (Tái Bản 2024)

Học và dạy ngữ pháp tiếng Anh không phải là vấn đề mới mẻ tại Việt Nam. Ngày nay, nhằm tăng cường kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong học tập cũng như trong công việc, một số quan niệm cho rằng học nhiều ngữ pháp tiếng Anh sẽ làm cản trở kỹ năng giao tiếp. Thật ra kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ bao gồm bốn lĩnh vực: (1) khả năng ngôn ngữ (linguistic competence), (2) khả năng diễn ngôn (discourse competence), (3) khả năng ngôn ngữ xã hội (sociolinguistic competence), (4) khả năng chiến lược ngôn ngữ (strategic competence). Khả năng thứ tư bao hàm các chiến lược học tập để giải quyết hiểu sai trong giao tiếp, đồng thời giúp người học ngôn ngữ cải thiện kỹ năng giao tiếp. Ngoài ra, trong giao tiếp ngôn ngữ, dù là ngôn ngữ viết hay nói, sự trong sáng của ngôn ngữ đều giúp đạt được kỹ năng giao tiếp cao; do vậy việc nắm vững ngữ pháp và từ vựng ứng dụng là bước căn bản trong việc giảng dạy và học tiếng Anh.

Cuốn sách “English Grammar in Use for ESL Writing - Ngữ pháp tiếng Anh ứng dụng trong kỹ năng viết” nhằm hỗ trợ người học cải thiện khả năng chiến lược ngôn ngữ qua các tài liệu trình bày giúp cho người học điều chỉnh lỗi sai và phát triển kỹ năng viết tiếng Anh, nhất là người học tiếng Anh cho kỳ thi cuối cấp THPT và năm đầu tiên của bậc đại học. Cuốn sách này cung ứng tư liệu và các vấn đề để giúp người học tra cứu.

Tình Báo Kể Chuyện

Tình Báo Kể Chuyện

Tôi được vinh dự tham gia Cách mạng tháng Tám, cầm tầm vông vạt nhọn giành chánh quyền ở quê nhà năm 17 tuổi rồi sau đó vào ngành tình báo của tỉnh Bà Rịa trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Sang thời kỳ chống đế quốc Mỹ, tôi cũng tiếp tục được tuyển mộ vào ngành tình báo quốc phòng Việt Nam, thường xuyên ra, vào Sài Gòn, nơi sào huyệt của quân thù để cùng với điệp viên hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao mà không để xảy ra một sơ sót nào dù nhỏ. Tôi đã cùng đội vỏ trang của Cụm tình báo H63, đơn vị Anh hùng lực lượng vỏ trang nhân dân bám trụ Củ Chi đất thép những năm vô cùng ác liệt để giữ vững đường dây liên lạc giữa Sài Gòn với cấp trên.

Nay tôi đã 93 tuổi rồi, cũng hơi lớn tuổi so với đời sống trăm năm của một con người, tôi muốn ghi lại những mẩu chuyện vui, buồn, nguy hiểm trong cuộc đời làm tình báo của tôi cũng như của bạn đồng đội cùng thời. Qua những mẩu chuyện này để mọi người thấy tình quân dân gắn bó trong mấy mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc. Có thể khẳng định: Không có sự giúp đỡ của dân thì những người công tác thành như tôi không làm nên trò trống gì, thậm chí không tồn tại nổi.

Có những con người tình báo dũng cảm, thông minh, sáng tạo, có những người dân đô thành không sợ nguy hiểm mà còn tích cực tham gia công tác cách mạng. Có được những nhân tố đó trước hết phải nói nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, người đã dày công đào tạo nên một lớp người như vậy, đã kiên trì gây dựng phong trào quần chúng từ mấy mươi năm trước. Tất cả hợp thành lực lượng bách chiến bách thắng mà kẻ thù quen thói hợm hình không lường được hết sức mạnh. (Đến nay chúng cũng chưa biết tại sao chúng thua trận).

Những mẫu chuyện này cũng góp phần làm cho giới trẻ hiện nay hình dung được tính chất ác liệt, lâu dài của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy truyền thống trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chuyện kể không theo thứ tự thời gian, nhớ đến đâu kể đến đó, có sơ sót gì mong độc giả thông cảm cho một người đã lớn tuổi mà còn ráng viết.

Nguyễn Văn Tàu

Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968

Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968

Đây là một tập truyện tác giả cẩn thận ghi chú: “Kể chuyện chiến đấu của Nguyễn Văn Tào”. Như thế, các nhân vật đều là những người có thật. Không có nhân vật nào là hư cấu.

“Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968” là cả một kho chất liệu cung cấp cho các nhà văn sau này muốn dựng lại những tác phẩm văn học về cuộc chiến tranh vĩ đại vừa qua. Chỉ cần một nhân vật cận cảnh của Sài Gòn Mậu Thân 1968 dựng thành một nhân vật chính, xoay quanh đó vài nhân vật hư cấu khác, các nhà văn có thể hình thành những tác phẩm về chiến tranh.

Kỷ niệm 20 năm cuộc tổng công kích Mậu Thân, có ít nhất là 4 hay 5 tác phẩm đã xuất bản. Đặc biệt Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968 của Nguyễn Văn Tàu, tác động vào ý thức cái đẹp của cuộc sống chung một cách “hiện thực” hoàn toàn. Người thực, việc thực, tâm tư tình cảm trung thực. Lịch sử là lịch sử hiện thực.

Phố Hàn

Phố Hàn

Chúng ta đang sống trong thời đại số, với công nghệ trí tuệ nhân tạo AI, chuỗi khối blockchain, Web3 và rất nhiều sản phẩm của khoa học công nghệ nằm ở một không gian khác. Dù có tiến bộ, phát triển đến đâu, công nghệ vẫn còn nằm trong hệ nhị nguyên, vẫn phải dựa trên đúng sai, tốt xấu, phân biệt. Thế giới ảo, sản phẩm của thời đại số, có thể cho phép chúng ta, chỉ bằng những câu lệnh, tái tạo được một giấc mơ, nhưng không thể tái tạo cảm xúc đi kèm giấc mơ đó.

Quyển sách này như một nỗ lực trải nghiệm lại một giấc mơ viễn du, đến những chân trời cao rộng thông qua những câu chuyện tiếp cận Phật pháp và đời sống tuổi trẻ. Tác giả dành thời gian nghiên cứu, xem xét với góc nhìn khám phá, thử nghiệm một cách thức tiếp cận mới với tri thức cổ xưa ngõ hầu nhìn lại những ánh dương lấp lánh của chân lý đã trải qua không gian, thời gian và nhiều lớp vọng của sự tình nhân thế.

Cuộc Tiến Hóa Văn Học Việt Nam

Cuộc Tiến Hóa Văn Học Việt Nam

Người có chút ít học vấn ở nước ta bây giờ, ai nấy đều phải công nhận: quốc văn ta ngày nay sở dĩ khả quan được, không phải thuần nhờ ở Pháp học trong cận kim thời đại đâu, mà nó còn nhờ được kiến thiết bởi một quá khứ phong phú nữa.

Quá khứ ấy tức là phong trào Hán học ở nước ta hồi thời Bắc thuộc và vào mấy đời Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

Từ Bắc thuộc đến Bản triều, non hai ngàn năm, người Việt Nam ta học chữ Hán, viết chữ Hán, coi nó như quốc tự. Chữ Hán thật đã ảnh hưởng rất lớn trên tinh thần dân ta, trước ngày khai sáng chứ nôm và chứ quốc ngữ- như chữ La tinh ở Pháp hồi Trung cổ thời đại.

Ngày nay, tuy chữ Pháp đã phổ cập trong dân gian, nhưng rừng văn làng báo nước nhà vẫn còn đắc dụng Hán học làm căn bản cho sự phát huy tư tưởng, trong khi biên thuật về các loại khảo cứu, nghị luận, phê bình. Biết bao tiếng trừu tượng, danh từ triết học, khoa học được cấu tạo bởi mẫu tự chữ Hán. Theo Henri Maspéro - trước làm giáo sư trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, sau về dạy khoa Trung Hoa văn tự ở Đại Pháp Học viện (Collège de France) tại Paris - tiếng An Nam ta thoát thai trong chữ Hán có đến một nửa. Với chữ Hán, tiếng ta có liên hệ mật thiết. Vậy ta có bổn phận tìm hiểu chút ít về cội rễ của nó, nếu ta tham vọng muốn nghiên cứu văn học nước nhà.

Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh - Đổi Thay Qua Những Khung Hình (1975-2025)

Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh - Đổi Thay Qua Những Khung Hình (1975-2025)

Đây là cuốn sách về Sài Gòn được tác giả Tam Thái thể hiện bằng hình ảnh, nơi anh đã sống từ gần nửa thế kỷ nay. Với sự kiên trì qua nhiều năm, những bước chân đã sải dài cùng những con phố, hẻm để ghi nhận. Đó là những hình ảnh Sài Gòn mà tác giả muốn cho chúng ta cùng xem ở đây.

Để xem thôi là chưa đủ. Tác giả còn khiến chúng ta hồi tưởng, khám phá nhiều mặt của quá khứ như còn xa lạ. Đặc biệt hơn, đó là sự quan sát tinh tế, suy ngẫm về sự tiến triển. Phần viết là những chú giải không thể thiếu để hiểu được bối cảnh, địa danh. Lựa chọn và sắp xếp các hình ảnh năm xưa theo chủ đề, là đưa ra một câu chuyện về cuộc sống đã từng phải đứt quãng, rồi lại được tiếp nối với những hình ảnh hiện đại, đặt ra vấn đề về ký ức.

Hình ảnh kết nối hiện thực hoạt động của con người với những hình thái thể hiện như về lĩnh vực xây dựng và kiến trúc, không chỉ đơn thuần là minh họa. Chính những bức ảnh này làm cho chúng ta phải suy nghĩ về những gì đã có trong quá khứ, và đặt ra vấn đề tương lai của một thành phố năng động như Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Thành phố với một lịch sử vừa vinh quang vừa bi kịch, sống động bởi sức sống của người dân đã được khẳng định, với sự phát triển và mở mang về không gian lẫn dân số, Sài Gòn vén bỏ mạng che cho những ai biết ngắm nhìn…

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - Nhà Báo

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - Nhà Báo

Thế giới chỉ có hai loại người: Bóc lột và bị bóc lột.

Cũng như Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan của thế kỷ 18, 19 khao khát thuộc địa, Pháp tranh đua đóng tàu thuyền, sắm vũ khí, tuyển người đi đến những vùng đất xa xôi, lạc hậu để chiếm đất, vơ vét tài nguyên. An Nam xứ Đông Dương trở thành miếng mồi cho kẻ xâm lược. Tháng 8-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng. Tháng 2-1859, Pháp đánh chiếm thành Sài Gòn. Năm 1883, về cơ bản chúng đã bình định được toàn cõi An Nam và bắt đầu đặt ách đô hộ.

Khi Nguyễn Tất Thành lớn lên, các phong trào vũ trang, văn hóa, kinh tế... của các nho sĩ, quan lại yêu nước và nhân dân bị đàn áp, khủng bố. Mọi sự đều bế tắc.

Phải thoát ra. Văn Ba (tên gọi trước đây của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc) xin được chân làm công trên tàu biển đi lại từ Việt Nam đến các nước. Sáu năm (1911 - 1917) tại hải ngoại, tiếp xúc với đủ loại người, tận mắt chứng kiến bao số phận, dần dần Nguyễn hiểu ra sáu chữ "Tự Do - Bình Đẳng - Bác Ái" chỉ là một mỹ từ.

Nguyễn Tất Thành đã quyết định dừng chân ở Pháp, Người muốn sống đủ lâu nơi đây để hiểu tường tận sáu chữ: Tự Do - Bình Đẳng - Bác Ái. Tận mắt nhìn thấy đời sống người dân và xã hội Pháp, chủ nghĩa thực dân.

Thế giới chỉ có hai loại người: Bóc lột và bị bóc lột. Nguyễn chọn sống ở Pháp vì nơi đây có nhiều người Việt sinh sống, ngoài 10 vạn lính thợ và lính trận người Việt làm bia đỡ đạn cho Pháp trong chiến tranh. Nơi đây cũng có nhiều cư dân các nước thuộc địa của Pháp, Anh. Các hải cảng lớn, điểm giao thương buôn bán, vận tải thường xuyên nhộn nhịp vào ra. Thuận lợi cho việc tìm hiểu tin tức ở quê nhà.

Nhưng nước Pháp vừa qua một cuộc chiến tranh, kiệt quệ về kinh tế, nên Nguyễn phải vất vả mưu sinh. Nguyễn làm đủ việc như vẽ truyền thần, quảng cáo, đồ mỹ nghệ giả cổ, thợ ảnh... Còn thời gian học ngoại ngữ, giao lưu, mở rộng quan hệ với bạn bè. Những hoạt động như vậy đã hòa nhập Nguyễn với cộng đồng xã hội người lao động nghèo. Dần dà, từ hiểu biết, thấu cảm hoàn cảnh đi đến liên kết, rồi xuất hiện ý tưởng cùng nhau đoàn kết lập Hội, đoàn tương thân, tương ái.

Chinh Phục Cấu Trúc - Mẫu Câu Trong Tiếng Hoa Từ A - Z

Chinh Phục Cấu Trúc - Mẫu Câu Trong Tiếng Hoa Từ A - Z

Học tiếng Hoa không chỉ đơn thuần là nắm vững từ vựng hay ngữ pháp, mà đòi hỏi người học phải hiểu và vận dụng được các cấu trúc câu trong giao tiếp hàng ngày, trong học tập và cả trong các kỳ thi. Một câu nói dù đơn giản nhưng sai cấu trúc có thể làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa hoặc khiến người nghe không hiểu được thông điệp bạn muốn truyền tải.

Bạn đã từng cảm thấy lúng túng khi nghe người khác nói mà không hiểu họ muốn diễn đạt gì?

Bạn đã từng cảm thấy bất lực khi muốn diễn đạt ý tưởng nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu? Hay, bạn từng đọc một câu tiếng Hoa, biết nghĩa từng chữ nhưng lại không thể hiểu ý nghĩa trọn vẹn?

Tất cả những khó khăn này đều bắt nguồn từ việc chưa nắm vững cấu trúc câu.

Hiểu được những trăn trở của người học, tiếp nối thành công của quyển sách Cấu trúc - Mẫu câu thường dùng trong tiếng Hoa từ A - Z trước đây, chúng tôi tiếp tục bổ sung thêm và biên soạn quyển sách Chinh phục Cấu trúc - Mẫu câu trong tiếng Hoa từ A đến Z: Bí quyết Nghe hiểu - Nói đúng - Viết hay - Dịch chuẩn.

Quyển sách này là cầu nối giúp bạn:

+ Hiểu rõ ý nghĩa và cách dùng của từng cấu trúc câu qua giải thích chi tiết và công thức rõ ràng.

+ Rèn luyện khả năng áp dụng thông qua các ví dụ minh họa sinh động, dễ hiểu, được hỗ trợ bằng hình ảnh, phiên âm và dịch nghĩa. Tư kiểm tra và củng cố kiến thức với hệ thống bài tập đa dạng, kèm đáp án tham khảo.

Quyển sách không chỉ là một công cụ học tập hữu ích mà còn là người bạn đồng hành đáng tin cậy cho những ai đang ôn luyên các kỳ thi HSK, từ cấp độ cơ bản đến nâng cao.

Với sự đóng góp của các giảng viên, giáo viên giàu kinh nghiệm từ các trường đại học và trung tâm uy tín, quyển sách này được xây dựng như một tài liệu học tập thực tiễn, giúp bạn từng bước vượt qua những rào cản trong việc sử dụng cấu trúc câu tiếng Hoa.

Hãy để quyển sách này trở thành chìa khóa mở cánh cửa thành công của bạn trong việc học tiếng Hoa.

Chúng tôi tin rằng, với sự đồng hành của quyển sách này, bạn không chỉ “học” tiếng Hoa, mà còn “dùng” và “sống” cùng ngôn ngữ đẩy thú vị và phong phú này.

Chúc bạn học tập thật hiệu quả và thành công!

Bàn Về Đạo Nho

Bàn Về Đạo Nho

Thế nào là nhân? Cả đạo Nho xoay quanh một chữ. Nhân là tỉnh người, khác với thú vật. Nhân là tình người, nối kết người này với người khác. Có tự kiềm chế, khắc kỳ, khép mình vào lẽ nghĩa mới nên người. Có mở rộng tầm nhìn, lấy “Văn” mà tô đẹp mới thành người. Có gắn bó với người khác mới thật là người. Có thấu hiểu bản thân, tri thiên mệnh mới là con người trưởng thành.

Nhân việc Viện Hàn Lâm Pháp tặng giải thưởng năm 1992, có người chê trách tôi đã từng thay đổi ý kiến nhiều lần. Đúng, thời thế biến chuyển, tôi có thay đổi chính kiến, nhưng không hể thay đổi đạo lý. Đã gọi là đạo lý, không thể xa rời dù là chốc lát. Không vì giàu sang mà sa đọa, không vì nghèo khó mà xa rời, không khuất phục trước uy quyền, thời buổi nào cũng vẫn giữ được đường đi."

Chân Dung Anh Hùng Lý Tự Trọng - Qua Những Tư Liệu Lịch Sử

Chân Dung Anh Hùng Lý Tự Trọng - Qua Những Tư Liệu Lịch Sử

Bằng tình cảm, thái độ trân trọng và lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với người anh hùng đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân vì lý tưởng của Đảng và cách mạng, đồng thời nhằm hệ thống lại các nguồn sử liệu để cung cấp thêm những thông tin về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lý Tự Trọng, tác giả Dương Trọng Phúc đã thực hiện quyển sách Chân dung anh hùng Lý Tự Trọng qua những tư liệu lịch sử.

Trong tập sách này, tác giả chọn ra 17 vấn đề liên quan đến anh hùng liệt sĩ Lý Tự Trọng (con số này cũng chính là số tuổi của đồng chí Lý Tự Trọng khi bị thực dân Pháp xử tử) để kiến giải, minh chứng thông qua nguồn tài liệu lưu trữ, báo chí, hồi ký nhằm làm rõ thông tin liên quan đến anh hùng Lý Tự Trọng

Thiên Đường Và Địa Ngục (Ghi Chép Trong Đại Dịch Coronavirus)

Thiên đường và địa ngục - Ghi chép trong đại dịch Coronavirus

Tặng những anh hùng nơi tuyến đầu

For frontline heroes!

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn sách này là những ghi chép của bản thân tôi trước và trong đại dịch Coronavirus bùng phát năm 2020 ngay sau Tết dương lịch. Vì vậy tôi sẽ dùng BCP (Before Coronavirus Pandemic) để chỉ thời gian trước đại dịch và ACP (After Coronavirus Pandemic) chỉ thời gian sau đại dịch.

Chương 1 viết về Giấc mơ Mỹ trước đại dịch là khoảng thời gian tôi học tập ở xứ cờ hoa từ 2008 - 2010, cũng là niềm mơ ước của tôi khi còn trẻ, với những cảm nhận về một thiên đường mơ ước của nhiều người.

Chương 2 viết về Đại dịch Coronavirus là dạng ghi chép phi hư cấu (nonfiction) bắt đầu với một vài thông tin từ địa ngục Vũ Hán đến sự hoang mang, lo sợ của nhiều người ở Việt Nam. Tiếp đến là những thông tin liên tục được cập nhật hằng ngày hằng giờ tại Việt Nam và thế giới trong thời gian “cách ly xã hội” cho đến ngày 27/4/2020 khi học sinh 30 tỉnh thành được trở lại trường học sau kỳ nghỉ Tết dài nhất trong lịch sử.

Chương 3 viết về Bài học cho thế giới sau đại dịch là những cảm nhận, so sánh, chiêm nghiệm,… để rút ra bài học cho bản thân và nhìn nhận về thế giới chúng ta đang sống cũng như tương lai của nhân loại.

Những góc nhìn so sánh liên tục được đặt ra giữa các quốc gia nhưng tập trung chủ yếu vào Việt Nam và Mỹ. Vì Việt Nam là nơi tôi chứng kiến tận mắt, còn Mỹ là nơi tôi có một khoảng thời gian thiên đường khi sống và học tập ở đó. Khi nước Mỹ đau đớn vật lộn trong đại dịch CV (Coronavirus) 1 với hàng nghìn người chết mỗi ngày và những ngôi mộ tập thể ở New York (đúng 10 năm sau khi tôi rời Mỹ), tôi chợt nhận ra thiên đường và địa ngục không hề cách xa nhau, nó có thể cùng một chỗ.

1. Trong cuốn sách này tôi sẽ dùng chữ viết tắt CV thay cho Coronavirus, nCoV, Covid-19, SARSCoV-2,… để thuận tiện cho bạn đọc. Tuy nhiên, khi trích dẫn tôi sẽ dùng đúng từng cách gọi.

Ghi chép về hai trạng thái đối lập này chính là cảm nhận của cá nhân tôi về thế giới của chúng ta, một thế giới vô cùng mong manh mà tất cả chúng ta đang dựa vào đó. Tốt đẹp và xấu xa, cao thượng và thấp hèn, giàu có và nghèo túng, ngay thẳng và xảo trá,... đó chính là hai nửa thế giới, hay đúng hơn là hai mặt của một thế giới, luôn song hành tồn tại có cả thiên đường và địa ngục.

Thế giới hậu Covid (ACP) sẽ hoàn toàn đổi khác. Chúng ta sẽ phải thích nghi với một hoàn cảnh mới, một thời đại mới với vô vàn sự khác biệt, có thể tốt đẹp hơn nhưng cũng có thể tồi tệ hơn. Có thể là thiên đường nhưng cũng có thể là địa ngục. Ngay bây giờ, mỗi con người chúng ta hãy bắt đầu trở lại, bằng ý thức trách nhiệm với môi trường tự nhiên, với thế giới mà chúng ta đang sống, với Ngôi nhà xanh duy nhất, nơi có Bà mẹ Thiên nhiên bao dung, nhân hậu nhưng đang quằn quại trong đau khổ vì những đứa con của bà.

Những dòng sông chết, những khu rừng bị đốn trụi, những đại dương ô nhiễm, những rừng bê tông hút tầm mắt cùng bầu không khí đậm đặc bụi mịn PM 2.5 ở mức tím, mức nâu. Nghiệp lực toàn cầu (như lời cậu bé Abhigya ở Ấn Độ nói đến) do những đứa con bất hiếu của Bà mẹ Thiên nhiên tạo ra. Bạn và tôi, tất cả chúng ta có thể xây nên một thiên đường hay tạo ra một địa ngục? Điều đó phụ thuộc vào ý thức và trách nhiệm của mọi người nhưng lại luôn khởi đầu từ mỗi người.

Đại dịch CV có thể qua đi nhưng cũng có thể không bao giờ chấm dứt, bởi lẽ, nó được tạo ra từ nghiệp lực (karma) của chúng ta, cũng giống như những điều tốt đẹp hay những thảm họa khác do chính con người tạo nên.

Hà Nội, mùa Hè 2020.

Đinh Hồng Hải

Trích đoạn:

Họ đã cho chúng ta thấy một thực tế rằng các đội quân tinh nhuệ, lực lượng phản ứng nhanh của các quốc gia cùng các đội tàu sân bay với chi phí hàng nghìn tỷ đôla chỉ để phản ứng với kẻ thù hữu hình. Còn với kẻ thù vô hình như CV thì chỉ có chuyên môn khoa học mới có thể phòng và tránh được từ xa bằng chính sự xả thân và đạo đức khoa học của những người anh hùng nơi tuyến đầu đó. Nhân loại sẽ tri ân họ và cũng sẽ phải rút ra những bài học vô cùng đắt giá từ đại dịch này. – tr 69

 

Thật may cho Việt Nam, do đã quá hiểu “người anh em núi liền núi sông liền sông” hàng nghìn năm qua nên những tin tức từ Vũ Hán ngay từ đầu đã được nhiều người lưu tâm. Chính phủ Việt Nam đã có những động thái nhanh và mạnh chưa từng thấy. Mức độ nguy hiểm của dịch bệnh được tính toán chi tiết và công bố trên truyền hình. Do tiềm lực y tế của Việt Nam có hạn nên chính phủ đã huy động người dân và mọi tổ chức xã hội đóng góp nhân tài vật lực cho cuộc chiến. Nhờ đó, Việt Nam đã thoát hiểm một cách ngoạn mục ít ai ngờ tới sau nửa năm dịch bệnh bùng phát trên thế giới.

Mặc dù dịch bệnh trên thế giới vẫn chưa kết thúc và dịch bệnh ở Việt Nam vẫn có thể bùng phát trở lại nhưng sau hơn nửa năm hoành hành ở Việt Nam, đây là một trong những quốc gia hiếm hoi vượt qua được một giai đoạn quan trọng của dịch bệnh với chi phí thấp trong một nguồn lực hạn chế.

Nội dung dưới đây là những gì đã diễn ra như một cuốn phim quay chậm ở Việt Nam, ở Mỹ và nhiều nơi trên thế giới trong gần hai tháng “cách ly xã hội” vừa qua. Lượng thông tin dày đặc, tràn ngập các phương tiện truyền thông, nếu chúng ta không ghi lại thì những luồng tin tức của ngày hôm sau sẽ nhấn chìm luồng thông tin hôm trước. Vì vậy, cá nhân tôi đã cố gắng hết mức để cập nhật từng ngày, thậm chí từng giờ để theo kịp diễn tiến của các sự kiện chính. Từ đó xâu chuỗi các vấn đề để chúng ta có thể theo dõi và sử dụng như một tư liệu. – tr 72

 

Trạng thái “bình thường mới” này có thể khiến những tập đoàn hàng không khổng lồ hay những tập đoàn dầu mỏ lừng danh sụp đổ. Nó buộc các tập đoàn chuyên sản xuất siêu xe thành nơi sản xuất máy thở. Trạng thái “bình thường mới” này có thể biến những “ngôi sao” hàng trăm triệu đôla như Ronaldo rớt giá xuống còn một nửa chỉ sau vài tuần.

Nó có thể biến những thương hiệu thời trang nổi tiếng thành nơi sản xuất khẩu trang. Nó có thể buộc những người không đeo khẩu trang phải ra đi, nằm lạnh lẽo ngoài nghĩa trang. Nó có thể biến những bộ đầm “tiền tỷ” thành trang phục đi đổ rác. Nó có thể bắt một biểu tượng sức mạnh quân sự (như tàu sân bay USS Roosevelt) phải kêu cứu thì nó cũng có thể buộc một đế chế đã tồn tại 5.000 năm phải sụp đổ mà không vì mũi tên viên đạn nào,…

Nhưng trạng thái “bình thường mới” đó cũng có thể đưa một đất nước đang ở vị thế “trung bình thấp” như Việt Nam lên một tầm cao mới. Nó có thể cho thấy một nền y tế linh động an toàn hơn một nền kinh tế có quy mô lớn. Nó có thể đưa một bài ca về “dịch tễ học” như Ghen cô Vy vươn xa khắp hành tinh thì nó cũng có thể biến kỹ sư nông nghiệp Hồ Quang Cua và cộng sự thành những “ngôi sao” trên bầu trời mới, bầu trời nông nghiệp Việt Nam, vốn bị nhấn chìm bởi công nghiệp hóa và toàn cầu hóa. Và nó có thể biến Đồng bằng Sông Cửu Long thành “nhà hát của những giấc mơ,” giấc mơ “được mùa giá cao” của những loại gạo Việt Nam ngon nhất thế giới.

Trạng thái “bình thường mới” có thể vá những “lỗ thủng tầng ozôn” vài chục năm qua chỉ trong một vài tháng. Nó cũng có thể lấy lại những không gian rộng lớn mà con người đã xâm chiếm của các loài để làm sân golf và khu nghỉ dưỡng (resort). Nó có thể làm nước biển ở Venice trong xanh chỉ sau vài ngày mà không cần đến một thiết bị lọc nước nào.

Nó có thể ngăn chặn hàng triệu tấn rác thải nhựa mỗi năm đổ xuống lòng đại dương vì con người phải chuyển từ “ăn nhanh” sang “ăn chậm” và “ăn ít” đi, nó cũng có thể cứu hàng nghìn loài sắp tuyệt chủng. Nó có thể khiến các nhà máy ngừng xả nước thải độc hại giết chết các dòng sông. Nó có thể khiến các ông trùm khủng bố ngừng bắn và buộc các nhà máy vũ khí dừng sản xuất vì các vũ khí hạng nặng hay tối tân chẳng thể nào tiêu diệt được nó,…

Tại sao trạng thái “bình thường mới” có thể khiến thế giới của chúng ta thay đổi lớn đến như vậy? – tr186 + 187

 

Quá khứ của người Việt đã phải trải qua vô số cuộc chiến trong hàng nghìn năm lịch sử, họ thấu hiểu những mất mát đau thương khi buộc phải tham gia vào bất cứ cuộc chiến tranh nào. Nhưng có vẻ như cái “nghiệp chiến binh” đã vận vào họ nên gần như thế kỷ nào nước Việt cũng có chiến tranh. Dường như kinh nghiệm chiến đấu “nghìn năm” đã giúp họ có được những kỹ năng sống còn khi đối mặt với hiểm nguy. Trong những hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo họ lại phát huy được những phẩm chất tốt nhất của những con người biết chịu đựng: Nếm mật nằm gai. Và trong lúc khổ đau và mất mát họ lại phát huy được tình tương thân tương ái: Lá lành đùm lá rách.

Truyền thống

Truyền thống chống giặc ngoại xâm của người Việt trong lịch sử nghìn năm của dân tộc đã rèn luyện nên những phẩm chất tốt đẹp của những chiến binh thực thụ. Dù không phải là những người lính, những bác sĩ và nhân viên y tế của Việt Nam đã luôn chiến đấu trên 100% sức lực nơi tuyến đầu. Thậm chí, những tình nguyện viên chưa bao giờ nghĩ đến việc họ phải làm nhân viên trong các khu cách ly đã hy sinh quyền lợi cá nhân của mình cho những người đang cách ly (không phải bệnh nhân). Họ sẵn sàng nằm giữa lối đi giữa “màn trời chiếu đất” để nhường chỗ ngủ cho những người khác. Hàng nghìn sinh viên ngành y sẵn sàng lên tuyến đầu chống dịch dù họ biết rõ hơn ai hết mức độ nguy hiểm của CV và nguy cơ lây nhiễm cho mình và cả gia đình. – tr 190

Boxset Đại Cương Triết Học Trung Quốc (Hộp 2 Cuốn)

Đại Cương Triết Học Trung Quốc (Boxet 2 Cuốn)

Trong lịch sử triết học Trung Hoa, đạo Khổng chiếm địa vị quan trọng nhất mà phương tiện của đạo đó là CHÍNH và GIÁO, nghĩa là dùng chính trị và giáo dục để cải hóa con người, mưu cầu một cuộc sống yên ổn trong xã hội có tổ chức

Cho nên ta có thể nói rằng đa số các triết gia Trung Hoa không tìm hiểu để hiểu biết mà tìm hiểu để giúp đời; họ nghiên cứu vũ trụ, tri thức và nhân sinh đều là vì nhân sinh, họ giống các triết gia thời cổ của Hy Lạp (như Platon, Aristote) hơn là giống các triết gia cận đại của Âu châu; họ là những chính trị gia, luân lý gia hoặc muốn đóng vai trò chính trị gia, luân lý gia.

góp nhặt tìm hiểu lịch sử việt

Góp Nhặt Tìm Hiểu Lịch Sử Việt

Các bài viết mà ông tập hợp trong sách này là kết quả nghiên cứu nhiều năm của ông trong quá trình giảng dạy, có những đề tài đã theo ông, hay đúng hơn, ông theo đuổi nó từ rất lâu rồi. Điều thú vị là mỗi bài đều có phát hiện mới... Cuốn sách tập hợp những bài viết về từng sự kiện, nhân vật hay vấn đề lịch sử và, bằng tư liệu hoặc mới phát hiện hoặc có từ lâu nhưng được tác giả đọc và phân tích theo nhãn quan riêng, với lý giải và nhận định của mình, soi lại hiện thực dưới góc nhìn mới, ánh sáng mới... Quyển sách Tìm hiểu lịch sử Việt mà nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc khiêm tốn dùng từ Góp nhặt là một quyển sách sử Việt xứng đáng được đưa vào nhiều thư viện, nhất là các thư viện trường học, tủ sách gia đình. Nó giúp người ta học sử, dạy sử và thêm hiểu, thêm yêu lịch sử Việt Nam, không phải một cách hồn nhiên, bản năng hay theo quan điểm chính thống nào, mà từ hiểu biết lý trí, từ cảm xúc chân thật.

(Trích Lời giới thiệu của Tiến sĩ Bùi Trân Phượng Nguyên Phó trưởng Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh)

di sản sài gòn thành phố hồ chí minh - bìa cứng (tái bản 2025)

Di Sản Sài Gòn Thành Phố Hồ Chí Minh - Bìa Cứng (Tái Bản 2025)

Không gian kiến trúc Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh thực sự bắt đầu được kiến tạo từ năm 1698, khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam kinh lược, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định). Hơn 300 năm qua, những công trình kiến trúc, những nét sinh hoạt văn hóa tại vùng đất này đã lắng đọng vào phố thị và tâm hồn của cộng đồng dân cư nơi đây, kết tinh thành di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh.

Cuốn sách Di Sản Sài Gòn Thành Phố Hồ Chí Minh tập hợp hơn 300 bức ảnh quý hiếm của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, bao quát lịch sử - văn hóa - xã hội vùng đất này. Đó là những công trình kiến trúc như: dinh thự, trường học, bệnh viện, khách sạn, cầu đường,...; là những nét văn hóa trong đời sống thường nhật như: đám cưới, hát bội, đờn ca tài tử, đua ngựa...; là đặc sắc ẩm thực Sài Gòn với quán cà phê, gánh hàng rong...

Cuốn sách được biên soạn với mục tiêu bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa, giữ gìn dấu xưa và làm lan tỏa giá trị di sản trong cuộc sống hiện nay để Thành phố Hồ Chí Minh tự hào và xứng đáng với vai trò là trung tâm về nhiều mặt của cả nước, góp phần bổ sung vào bộ sưu tập tài liệu nghiên cứu và tư liệu hình ảnh về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó làm phong phú thêm cho di sản văn hóa Việt Nam.

thể chế công ở việt nam thế kỷ xviii - bìa cứng

Thể Chế Công Ở Việt Nam Thế Kỷ XVIII (Bìa Cứng)

Kể từ khi được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1969, sách Thể chế công ở Việt Nam thế kỷ XVIII của Đặng Phương Nghi nhanh chóng trò thành tài liệu tham khảo không thể thiếu đối với các học giả nghiên cứu lịch sửViệt Nam (Đại Việt) trước khi nhà Nguyễn (1802-1945) ra đời. Sách này tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn trong nước (Hán Nôm, quốc ngữ) và châu Âu nhằm soi sáng tổ chức chính trị, quân sự từ trung ương đến địa phương (trấn, huyện, xã). Đây là công việc phức tạp vì vấn đề không phải là nghiên cứu một hệ thống chung mà là hai hệ thống ở hai lãnh thổ tự trị. Ở đây chúng tôi xin nhấn mạnh rằng nghiên cứu kết thúc với cuộc nổi dậy của Tây Sơn bởi vì, như tác giả viết, "Trong những năm nội chiến từ 1776 đến 1788, mọi thứ đều rồi bời, luật lệ chỉ còn trên giấy và công lý gần như biến mất"

đường về phương nam - nghiên cứu mới về đờn ca tài tử và cải lương

Đường Về Phương Nam - Nghiên Cứu Mới Về Đờn Ca Tài Tử Và Cải Lương

Nghệ thuật cải lương ra đời ở Nam bộ vào đầu thế kỷ XX và đã trải qua những thăng trầm trong lịch sử. Từ thời kỳ đỉnh cao vào những năm 1930 đến 1960, khi các vở tuồng cải lương thu hút hàng vạn khán giả đến các rạp hát lớn ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận, cải lương đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người miền Nam. Tuy nhiên từ sau năm 1975, loại hình nghệ thuật này bắt đầu suy giảm dần trước sự cạnh tranh với các hình thức giải trí mới. Năm 2013, UNESCO công nhận đờn ca tài tử là một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nghệ thuật sân khấu cải lương được kế thừa và phát triển từ nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, gần đây đã được nhìn nhận lại như một di sản văn hóa quý giá, với nhiều nỗ lực qua các chương trình truyền hình và các dự án bảo tồn.

Cuốn sách này mở ra một cánh cửa mới, giúp chúng ta khám phá cải lương một cách phong phú hơn, qua những phát hiện mới, nhận thức mới và những tư liệu chưa từng được biết đến.

Cuốn sách nhỏ này cũng làm thay đổi cách chúng ta nhận thức về đờn ca “tài tử”, không đơn thuần chỉ những người nghệ sĩ bán chuyên nghiệp mà là những người có tài năng thực sự trong việc truyền tải và gìn giữ những giá trị nghệ thuật truyền thống. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh sự quan trọng của việc hiểu và đánh giá đúng mức những đóng góp của các nghệ sĩ trong việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian.

việt nam sử luận - góc nhìn đa chiều

Việt Nam Sử Luận - Góc Nhìn Đa Chiều

“Để mở ra mối quan hệ binh thường giữa Việt Nam và Trung Quốc, đồng thời đạt được yêu cầu Nguyễn Huệ đến triều nhập cận, một nhà thống trị coi trọng thực vụ như Thanh Cao Tông, ngoài việc thỏa hiệp về mặt ngoại giao, thậm chí ép An Nam Quốc Vương Lê Duy Kỳ gióc tóc cải trang ra lệnh buộc phải dời đến ở Bắc Kinh, đế lấy lòng Nguyễn Huệ, ông còn dụ người phản đối Nguyễn Huệ là Lê Quýnh đến Trung Quốc và giam cầm, thanh trừ hậu hoạn cho Nguyễn Huệ. Những thủ đoạn này rõ ràng có thể khiến cho chính quyền Nguyễn Huệ được xác lập một cách thuận lợi, phù hợp với tình thế chính trị lúc bấy giờ. Việc Nguyễn Huệ nhập cận (bất luận có đúng là Nguyễn Huệ hay không) cũng đẩy vị thế lịch sử của Thanh Cao Tông lên một đỉnh cao mới, đối với vị đại hoàng đế tuổi gần 80 này, quả là một sự phát triển tốt nhất và danh dự “thập toàn”."

ĐẠO NGHĨA và HIỆN THỰC: Cuộc chiến Thanh - Việt và nhà Lê chống nhà Thanh

“Vua Tự Đức tưởng rằng ký với nước Pháp Hòa ước Giáp Tuất và Thương ước Việt - Pháp thì có thể được nước Pháp tôn trọng, ngài muốn tìm không gian và địa vị quốc tế cho Việt Nam, để thể hiện tính độc lập và tự chủ của Việt Nam trong ngoại giao. Nhưng, khi ngài muốn đi ra khỏi sự ràng buộc của nước Pháp, thì ngài mới nhận biết rõ ràng cơ chế điều ước của phương Tây, tôn trọng bề ngoài chỉ là một cuộc chơi câu chữ, đối với kẻ yếu mà nói, ký hòa ước cũng giống như cổ đã đặt trên máy chém. Ngược lại, trong khuôn khổ triều cống rõ ràng tôn ti của phương Đông, tính độc lập và ý nghĩa thực chất mà ngài cảm thấy được lại rộng lớn và xa xăm hơn không gian của quy phạm hòa ước. Ngài quay trở lại với triều đình nhà Thanh, tìm kiếm sự bảo vệ. Nhưng mà, trong mối quan hệ quốc tế thế kỷ 19 phức tạp, cho dù là Việt Nam có lựa chọn như thế nào đi nữa cũng sẽ đối mặt với sự xâm lược của thực dân. Đương nhiên triều đình nhà Thanh xuất binh đến Bắc Kỳ cũng không phải là có tình yêu gì với Việt Nam, mà chính xác là để bảo vệ sự an toàn cho biên cương phía Nam (Trung Quốc) mà thôi, đương nhiên triều đình nhà Thanh đồng ý chiến đấu vì Việt Nam, thực chất cũng là để xoay chuyển tình thế suy nhược, vì đây là thời đại mất cân bằng.”

HÒA ƯỚC GIÁP TUẤT: Bế tắc trong vấn đề ngoại giao của vua Tự Đức (1868 - 1880)

tiếng việt chữ nghĩa - hồn vía dân gian

Tiếng Việt Chữ Nghĩa - Hồn Vía Dân Gian

“... Tất cả những câu chữ, những thành ngữ, tục ngữ hay những câu trích đoạn trong Truyện Kiều đều quá quen thuộc trong giao tiếp tiếng Việt. Nhưng nếu dừng lại phân tích, ta sẽ phát hiện ra nhiều điều “phi lí và có lí” trong cấu trúc và ngữ nghĩa. Chính cái tưởng phi lí, bất bình thường ấy lại làm nên ngữ nghĩa thú vị của tiếng Việt. Nó phụ thuộc vào cách nói, ngữ cảnh, phong tục tập quán và văn hoá ứng xử của người Việt từ bao nhiêu năm qua. Đó chính là những gì góp phần làm nên “hồn vía tiếng Việt” ngàn năm..."

lý thuyết về dịch thuật - một dẫn nhập ngắn

Lý Thuyết Về Dịch Thuật - Một Dẫn Nhập Ngắn

Die wahre Übersetzung ist durchscheinend, sie verdeckt nicht das Original, steht ihm nicht im Licht, sondern läßt die reine Sprache, wie verstärkt durch ihr eigenes Medium, nur um so voller aufs Original fallen. Bản dịch đúng là trong mờ, nó không che đi mất bản gốc, không đứng chắn ánh sáng nó, nhưng là để cho ngôn ngữ thuần túy, như thể được tăng cường qua môi trường của chính nó, chỉ tuôn ra trọn vẹn hơn từ bản gốc.

thư giãn với y học

Thư Giãn Với Y Học

Cuốn sách mà bạn đọc đang cầm trên tay là những câu Cuon chuyện y khoa bên bàn cà phê. Bản đầu tiên của cuốn sách nhan đề Nhàn đàm y học đã được xuất bản hơn 10 năm trước. Nội dung của bản mới này đã thay đổi 50% so với bản gốc, và do đó, tôi nghĩ nó cần phải có một cái tên mới: Thư giãn với y học. Thư giãn với y học được soạn với hai tiền đề. Một, sức khỏe là tài sản quí giá nhất của chúng ta. Hai, để bảo vệ và nâng cao sức khỏe, chúng ta không chỉ cần biết về cơ thể mà còn cần hiểu về tâm trí và cách thức cơ thể tương tác với môi trường xung quanh. Cuốn sách này mong muốn chia sẻ những kiến thức cơ bản về mối liên hệ giữa tâm lí, dinh dưỡng, di truyền và sức khỏe một cách dễ hiểu và gần gũi nhất.

sài gòn - thành phố hồ chí minh - thành phố của tôi

Sài Gòn - Thành Phố Hồ Chí Minh - Thành Phố Của Tôi

Như dòng chảy không ngừng của thời gian, Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay mang trong mình dấu ấn của quá khứ, nỗ lực của hiện tại và kỳ vọng về tương lai. Trong khuôn khổ cuốn sách này, dù đặc biệt đến đâu, chúng tôi vẫn chưa thể chuyển tải hết những tâm tư, tình cảm, và những cuộc đời đáng sống gắn liền với thành phố này. Chúng tôi xin phép được trích đăng những bài viết mà hy vọng đã nói thay tiếng lòng của nhiều người, bày tỏ những suy nghĩ sâu sắc và tâm đắc nhất gửi đến Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh thân yêu. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), cuộc thi viết “Thành phố của tôi” như một mảnh ghép nhỏ hòa vào niềm vui chung của Thành phố và cả nước. Và trong mảnh ghép ấy chúng tôi tự hào khi có sự đồng hành của các bạn - những tác giả đã chọn cuộc thi này để gửi gắm tâm sự. Một lần nữa, xi chân thành cảm ơn từ tận đáy lòng!

thể chế công ở việt nam thế kỷ xviii

Thể Chế Công Ở Việt Nam Thế Kỷ XVIII

Kể từ khi được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1969, sách Thể chế công ở Việt Nam thế kỷ XVIII của Đặng Phương Nghi nhanh chóng trò thành tài liệu tham khảo không thể thiếu đối với các học giả nghiên cứu lịch sửViệt Nam (Đại Việt) trước khi nhà Nguyễn (1802-1945) ra đời. Sách này tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn trong nước (Hán Nôm, quốc ngữ) và châu Âu nhằm soi sáng tổ chức chính trị, quân sự từ trung ương đến địa phương (trấn, huyện, xã). Đây là công việc phức tạp vì vấn đề không phải là nghiên cứu một hệ thống chung mà là hai hệ thống ở hai lãnh thổ tự trị. Ở đây chúng tôi xin nhấn mạnh rằng nghiên cứu kết thúc với cuộc nổi dậy của Tây Sơn bởi vì, như tác giả viết, "Trong những năm nội chiến từ 1776 đến 1788, mọi thứ đều rồi bời, luật lệ chỉ còn trên giấy và công lý gần như biến mất"

cẩm nang tư duy phản biện và lập luận hiệu quả (tái bản 2025)

Cẩm Nang Tư Duy Phản Biện Và Lập Luận Hiệu Quả

Bạn tiếp cận với câu hỏi của một tiểu luận hoặc tranh luận theo cách nào? Bạn xem xét khẳng quyết mà những người khác đưa ra làm sao và đề xuất phản – khẳng quyết như nào? Và cách bạn cân nhắc điểm mạnh điểm yếu trong lập luận của chính bạn trước khi đưa hết chúng vào một kết luận thuyết phục?

Quyển sách dễ tiếp cận này đưa bạn từng bước từng bước vào nghệ thuật lập luận, từ suy tư về viết cái gì và viết làm sao, cho đến làm cách nào có thể củng cố các khẳng quyết của bạn, và làm sao đi đến một kết luận vững chắc. Được viết một cách hấp dẫn cùng với các tóm tắt đặc biệt hữu ích ở cuối mỗi chương, quyển sách này cho ta lời khuyên dễ dàng thực hiện theo khi đánh giá lập luận của những người khác và trình bày những lập luận hiệu quả của chính bạn. Điểm mạnh của quyển sách này nằm ở hướng dẫn dễ hiểu và sử dụng các lập luận có thực trong đời – vừa đương đại vừa trong lịch sử - và những câu hỏi có thực trong tiểu luận từ đủ các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Những ví dụ hấp dẫn, có liên quan, và thường vui vẻ, được sử dụng không phải để minh họa, nhưng để đưa ra các điểm tinh túy ta có thể học, kỹ thuật nào có thể vay mượn và những cạm bẫy cần tránh trong lĩnh vực tư duy phân tích và viết lách.

Cẩm Nang Tư Duy Phản Biện Và Lập Luận Hiệu Quả chắc chắn sẽ cải thiện tác phẩm viết lách của bất kỳ sinh viên nào mà cần phải chứng minh các kỹ năng then chốt của viết lách và tư duy phê phán. Nó có giá trị cho những chuyên gia đang cần đến các kỹ năng này (chẳng hạn nhà báo, luật sư, nhà nghiên cứu, chính trị gia) cũng y như cho bất kỳ ai có một lý lẽ cần trình bày và yêu thích làm điều đó một cách thuyết phục.

Colin Swatridge, là một giảng viên thỉnh giảng nhiều thâm niên tại bốn đại học ở Trung và Đông Âu, là giảng sư hàn lâm cho Open University Vương quốc Anh trong suốt 15 năm. Ông giảng dạy tư duy phản biện suốt nhiều năm cho các sinh viên Erasmus từ khắp châu Âu.

lịch sử việt nam qua chính sử trung hoa (tống sử, nguyên sử, minh sử, thanh sử cảo) (tái bản 2025)

Lịch sử Việt Nam qua chính sử Trung Hoa (Tống sử, Nguyên sử, Minh sử, Thanh sử cảo)

Tác giả: Cao Tự Thanh (dịch và giới thiệu)

… Mặc dù còn phải tìm hiểu rất nhiều sử sách khác và từ nhiều nguồn khác, một số tư liệu về lịch sử Việt Nam chỉ qua vài bộ chính sử Trung Hoa trên đây cũng đã cho thấy nguồn sử liệu về Việt Nam ở nước ngoài cần được quan tâm toàn diện và thích đáng hơn nữa, và bởi vì việc biên soạn một bộ tín sử về lịch sử Việt Nam nói chung trong đó có lịch sử mười thế kỷ sau thời Bắc thuộc nói riêng hiện nay vẫn chỉ mới trong giai đoạn bắt đầu.

 

Lời nói đầu:

Từ trước Công Nguyên, người Việt cổ ở Việt Nam đã có lãnh thổ và tổ chức xã hội của mình, nhà nước sơ khai và ký ức tập thể của mình, tuy nhiên con đường trở thành một quốc gia của cộng đồng này lại là một con đường quá đỗi gian nan. Không chỉ lãnh thổ bị thôn tính, tổ chức xã hội bị tàn phá, nhà nước sơ khai bị thủ tiêu, mà cả ký ức tập thể cũng bị chia cắt, hủy diệt trở thành manh mún, tàn khuyết. Trong suốt cả ngàn năm Bắc thuộc, lịch sử của cộng đồng người Việt cổ chỉ được ghi chép bởi các sử gia Trung Hoa, mà nhiều lý do những ghi chép ấy cũng rất thiếu sót và phiến diện, nên không lạ gì mà sau khi giành được độc lập vào thế kỷ X, mặc dù có nhiều nỗ lực, chính quyền và trí thức Việt Nam thời phong kiến vẫn không thể xây dựng được bộ thông sử khả tín của Việt Nam dưới thời Bắc thuộc. Phần Tiền biên trong hai bộ thông sử quan trọng ở Việt Nam là Đại Việt Sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho thấy điều đó.

Nhưng phần Chính biên của hai bộ thông sử nói trên cũng không mấy khả quan. Các sử gia từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX gặp quá nhiều trở ngại mà trước hết là chiến tranh tàn phá sử liệu. Trong mười thế kỷ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, không thế kỷ nào ở Việt Nam không có chiến tranh, cả chiến tranh với nước ngoài lẫn nội chiến hay xung đột quân sự giữa các lực lượng đối lập với nhau trong nước. Trước thế kỷ XX, cả ba trung tâm chính trị - văn hóa lớn ở Việt Nam là Thăng Long (Hà Nội), Phú Xuân - Thuận Hóa (Huế) và Gia Định (Sài Gòn) cũng không ít lần bị chiến tranh trực tiếp tàn phá. Quốc gia phong kiến Việt Nam phát triển một phần nhờ chiến tranh, nhưng sử học truyền thống Việt Nam lại thiếu sót một phần ví chiến tranh… Quyển Lịch sử Việt Nam qua chính sử Trung Hoa này góp phần bổ sung những thiếu sót ấy trước hết về mặt tư liệu.

Chính sử Trung Hoa tức Nhị thập tứ sử (Hai mươi bốn bộ sử), gồm chính sử các triều đại ở Trung Quốc được xác định trong đời Càn Long nhà Thanh tức Sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư, Tam quốc chí, Tấn thư, Tống thư, Nam Tề thư, Lương thư, Trần thư, Ngụy thư, Bắc Tề thư, Chu thư, Tùy thư, Nam sử, Bắc sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Cựu Ngũ đại sử, Tân Ngũ đại sử, Tống sử, Liêu sử, Kim sử, Nguyên sử, Minh sử. Đến đầu thế kỷ XX, chính quyền Trung Hoa Dân quốc chính thức thừa nhận thêm bộ Tân Nguyên sử của Kha Thiệu Mân, đưa con số chính sử lên thành hai mươi lăm bộ (Nhị thập ngũ sử). Ngoài ra còn có Thanh sử cảo do Thanh sử quán thành lập đầu thời Dân quốc tập hợp những ghi chép về lịch sử thời Thanh biên soạn, tuy không được coi là chính sử, nội dung cũng có rất nhiều sai lầm thiếu sót nhưng vẫn là một nguồn sử liệu quan trọng đã được nhiều người tham khảo và sử dụng. Quyển Lịch sử Việt Nam qua chính sử trung Hoa này giới thiệu những ghi chép có quan hệ với lịch sử Việt Nam trong bốn bộ Tống sử, Nguyên sử, Minh sử và Thanh sử cảo.

Về thể tài, bốn bộ sử nói trên theo khung biên soạn thống nhất của sử học truyền thống Trung Hoa, đều gồm bốn phần lớn là Bản kỷ, Chí, Biểu và Liệt truyện, trong đó những ghi chép có liên quan đến lịch sử Việt Nam chủ yếu nằm trong Bản kỷ và Liệt truyện. Trong quyển sách này, tư liệu trong mỗi bộ sử nói trên cũng đều được chia làm ba phần, phần I là truyện về Việt Nam trong Liệt truyện, phần II là những ghi chép có liên quan tới Việt Nam trong Bản kỷ, phần III là truyện về một số nhân vật Trung Quốc có liên quan tới lịch sử Việt Nam trong Liệt truyện. Riêng phần II chủ yếu là những sự kiện rời rạc được ghi chép ngắn gọn, nên quyển sách tổ chức thành những “điều” đánh số thứ tự từ 001 trở đi để người đọc tiện theo dõi.

Ngoài ra quyển sách còn có hai Phụ lục. Phụ lục I là bài chế văn của vua Gia khánh phong vương cho vua Gia Long do chúng tôi phục hồi nguyên bản chữ Hán và phiên dịch, chú thích, đã công bố trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển (Huế) số 5 (131), 2016, cũng phù hợp với nội dung của quyển sách nên đưa in lại để người đọc tiện tham khảo. Phụ lục II là bảng đối chiếu niên hiệu và năm âm – dương lịch kèm danh sách các vị vua theo miếu hiệu, giúp đối chiếu và tra cứu niên hiệu của các chính quyền ở Việt Nam và Trung Quốc. Vì nội dung sách bắt đầu từ thời Tống và dừng lại ở thời Thanh, nên bảng này bắt đầu từ năm Tống Thái tổ lên ngôi (960) và dừng lại ở Cách mạng Tân Hợi (1912).

Ngoài Thanh sử cảo theo bản in lần thứ sáu của Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 2003, các bản Tống sử, Nguyên sử, Minh sử mà quyển sách dung để phiên dịch và giới thiệu đều thuộc bộ Nhị thập tứ sử, bản in thu nhỏ (xúc ấn bản) của Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 1997, ba bản này đều có phần hiệu khám. Các chú thích trong bản dịch do đó ngoài việc đánh số (1), (2) theo thông lệ còn có những chú thích kèm thêm dấu hoa thị, ví dụ (1*) tức có sử dụng phần hiệu khám của nguyên bản.

Nhìn chung những ghi chép có liên quan tới lịch sử Việt Nam trong các phần Bản kỷ, Liệt truyện của Tống sử, Nguyên sử, Minh sử và Thanh sử cảo đều có nhiều sai sót, dĩ nhiên không thể nhất nhất nêu ra nhưng có những chỗ cần phải chú thích hay điều chỉnh ở đây chủ yếu là các thư tịch Việt Nam như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn, Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ, Lịch triều hiến chương loại chí (Bang giao chí) của Phan Huy Chú, Đại Nam Liệt truyện Tiền biên, Đại Nam Thực lục Tiền biên, Đại Nam Thực lục Chính biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng…

Có vài điều cần nói thêm. Mặc dù tên sách là Lịch sử Việt Nam qua chính sử Trung Hoa, nhưng quyển sách này chỉ mới giới thiệu được tư liệu trong vài bộ chính sử của Trung Quốc từ Tống sử trở đi. Tư liệu trong các bộ sử trước đó cần có thời gian cũng như nhiều điều kiện khác mới có thể tiến hành phiên dịch và giới thiệu, nếu nói đây là một món nợ thì chúng tôi xin phép người đọc được trả sau. Bên cạnh đó, chữ Hán văn ngôn trong bốn bộ sử này được viết bởi nhiều sử gia từ các thời Nguyên Minh Thanh đến thời Dân quốc, sự đa dạng về tập quán và phong cách ngôn ngữ là một thực tế không dễ nắm bắt, bản dịch vì thế chắc chắn có nhiều  lầm lẫn sai sót, nên chúng tôi luôn mong chờ người đọc chỉ giáo thêm cho.

Sau cùng, từ  2005 khi biết chúng tôi có ý định tiến hành quyển sách này nhưng  gặp khó khăn về tư liệu, Giáo sư Li Tana ở Australia đã ân cần khuyến khích và hào sảng gửi mua ở Trung Quốc tặng cho bộ Nhị thập tứ sử, tiếc là vì nhiều lý do nên ngoài vài bài viết rải rác đến nay chúng tôi mới làm được điều mình mong muốn. Cho nên nhân dịp quyển sách được xuất bản, tôi muốn qua đây gởi tới chị  lời cám ơn chân thành về việc đã nhiệt tình giúp đỡ một người học sử ở Việt Nam tìm hiểu thêm lịch sử Việt Nam.

Tháng 11.2018

Cao Tự Thanh

Mười thế kỷ Việt Nam trong chính sử Trung Hoa

Việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam có một tầm qua trọng không cần phải bàn cãi, tuy nhiên từ một cái nhìn trực quan vẫn có thể nói rằng thư tịch lịch sử thời phong kiến hiện vẫn còn nhiều khoảng trống đáng nghi ngại. Chỉ nói riêng việc phản ảnh lịch sử Việt Nam trước thế kỷ XX thì hai bộ thông sử lớn của Việt Nam là Đại Việt Sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục về cơ bản cũng không đáp ứng được yêu cầu trước hết về mặt tư liệu. Trong khi đó, thư tịch của một quốc gia láng giềng lâu đời là Trung Quốc chỉ nói trong phạm vi các bộ chính sử truyền thống cũng có không ít ghi chép về lịch sử Việt Nam trước thế kỷ XX. Nếu thừa nhận việc thu thập sử liệu về Việt Nam từ nguồn thư tịch của nước ngoài trong hoàn cảnh thông tin và kỹ thuật hiện nay đã trở thành điều khả thi , thì việc tìm hiểu Lịch sử Việt Nam trong mười thế kỷ sau thời Bắc thuộc đến trước thời Pháp thuộc qua chính sử Trung Hoa lại càng là điều cấp thiết.

Cũng như trong nhiều thư tịch lịch sử, lịch sử Việt Nam trong chính sử Trung Hoa hàm chứa hai lịch sử: Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong đó nổi bật là quan hệ giữa các chính quyền của hai nước và lịch sử nhận thức của các chính quyền mà đại diện là nhiều thế hệ sử gia Trung Quốc về lịch sử ấy. Nhìn từ góc độ tính mục đích, sử liệu về Việt Nam ở đây được thu thập, giới thiệu chủ yếu nhằm tổng kết lịch sử quan hệ với các chính quyền ở Việt Nam của từng triều đại, tuy nhiên để nhận thức quá trình tương tác thì phải xác nhận chủ thể đối tác, nên việc tổng kết lịch sử bang giao với Việt Nam không thể tách rời việc giới thiệu lịch sử hình thành và hoạt động của các chính quyền ở Việt Nam. Việc phản ánh lịch sử Việt Nam ở đây do đó là một kết quả tự nhiên mang yếu tố ngẫu nhiên nằm ngoài mục tiêu của những người biên soạn, nhưng chính nhờ vậy mà nó lại ít nhiều mang tính khách quan. Cho nên đối với việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam, ghi chép trong các bộ Tống sử, Nguyên sử, Minh sử và Thanh sử cảo của Thanh sử quán thời Dân quốc mặc dù có không ít sai lầm thiếu sót vẫn là một hệ thống sử liệu bổ sung mang tính gợi mở. Trong ý nghĩa này, việc tìm hiểu nội dung và tính chất, đặc điểm và giá trị của hệ thống sử liệu ấy là vấn đề cần được đặt ra.

kiến trúc pháp-đông dương - dấu tích "sài gòn-hòn ngọc viễn đông"

Kiến Trúc Pháp-Đông Dương - Dấu Tích "Sài Gòn-Hòn Ngọc Viễn Đông"

Sài Gòn xưa - Thành phố Hồ Chí Minh nay cho đến hiện giờ vẫn là đô thị lớn bậc nhất cả nước. Trong quá trình kiến tạo Thành phố, khoảng thời gian 1862-1945 là giai đoạn hình thành và hoàn chỉnh của một đô thị tân tiến và hiện đại, khác hẳn mô hình thành thị phong kiến Á Đông trước đó. Công sức xây đắp của người Pháp và đông đảo người Việt cùng toàn bộ cư dân thuộc nhiều vùng miền tứ xứ, đã làm nên một đô hội mỹ lệ và nhộn nhịp, kết hợp nhiều yếu tố Đông - Tây, trên cơ sở thừa kế đô thị Gia Định xưa cổ.

Từ đầu thế kỷ 20, đặc biệt vào thập niên 1920 trở đi, chính quyền Đông Dương tự hào quảng bá Sài Gòn là La Perle de l’Extrême-Orient - Hòn ngọc Viễn Đông, một điểm đến không thể thiếu của du khách, các nhà đầu tư và bạn bè thế giới.

Trong thực tế, vẻ đẹp của Hòn ngọc Viễn Đông, không chỉ là cảnh sắc và phố phường mà là toàn diện từ Kiến trúc đến Kinh tế, Văn hóa và Con người. Trong đấy, chỉ riêng về kiến trúc, có nhiều kiến trúc hay đẹp từ dinh thự đến nhà ở, phố chợ và nhiều công trình khác, thể hiện nhiều phong cách đa dạng…

huế và triều nguyễn theo dấu thời gian

Huế Và Triều Nguyễn Theo Dấu Thời Gian

Nghiên cứu về Huế và triều Nguyễn xưa nay đã có hàng chục tổ chức, cá nhân với hàng trăm công trình lớn nhỏ, thực sự tạo nên một kho tàng tri thức đồ sộ về cố đô Huế và triều đại quân chủ cuối cùng tại Việt Nam. Đỗ Minh Điền thuộc lớp các nhà nghiên cứu trẻ nhưng đã sớm chọn cho mình một lối đi riêng. Từ niềm say mê sưu tầm sách và tìm hiểu về lịch sử văn hóa vùng đất, đến nay anh đã có một sự tích lũy đáng nể về tư liệu và trong vài năm trở lại đây đã liên tục công bố nhiều bài nghiên cứu, biên khảo có giá trị trên nhiều diễn đàn học thuật khác nhau.

triết học tổng quát - vấn đề triết học

Triết Học Tổng Quát - Vấn Đề Triết Học

Mục đích của cuốn sách nhỏ này là góp tài liệu vào bộ sách giáo khoa về triết học còn rất nhiều thiếu sót. Ý định chúng tôi là giúp cho những người bắt đầu học triết lý hiểu được vấn đề triết học đặt ra thế nào, trong triết học có những vấn đề gì và những giải pháp chính từ xưa đến nay. Trong khuôn khổ ấy, phần “triết học tổng quát” này chia làm hai tập.

Trong tập nhất, chúng tôi đề cập “vấn đề triết học” bằng cách trình bày tổng quát lịch sử triết học, để từ đó rút những nét chính của triết học và xác định vị trí cho triết học bằng cách so sánh với khoa học. Trong tập hai, chúng tôi sẽ đề cập “nội dung triết học”, nghĩa là những vấn đề nghiên cứu thường xuyên trong triết học.

hội an lang thang phố nhớ-hình ảnh và ký ức - hoian wandering through the town of memories-art photos and memory notes

Hội An Lang Thang Phố Nhớ-Hình Ảnh Và Ký Ức - HoiAn Wandering Through The Town Of Memories-Art Photos And Memory Notes

Năm 1972, tôi đến Hội An và lưu lại đó hơn một năm, mở đầu cuộc mưu sinh. Trọ trong một ngôi nhà cổ ở cuối đường Cường Để (nay là đường Trần Phú). Cơm nước phía hạ Ông Bổn, ngủ nghê ở thượng Chùa Cầu. Tối thứ Bảy, chạy “Su 50” cà tàng về Đà Nẵng. Hồi đó, tôi mê chụp ảnh, nhưng chưa sắm đuợc máy và còn rất vô tư nên chớp ảnh như để mua vui. Sau đó, vào học và làm việc ở Sài Gòn. Mỗi Tết về Đà Nẵng, thế nào cũng dành một, hai buổi ôm máy ảnh đi chớp Hội An.

Tập sách này là kết quả của nhiều chuyến đi ngắn ngủi may mắn như thế, được trải dài từ thời bao cấp (năm 1980) đến năm 2024. Nhờ vậy, cảm nhận được phần nào đổi thay của Hoài Phố với thời gian. Những bức ảnh mãi còn lưu giữ những thân thương nhất, mặc tôi đã già đi cùng năm tháng.

Do đại dịch COVID-19, cửa đóng then cài kéo dài nhiều tháng, nhàn cư vi bất thiện, thôi thì “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hơi”. Tôi bèn soạn kho ảnh, với suy nghĩ: Mỗi bức ảnh là một chứng nhân thời mình đã sống, cùng với chút vốn thực địa của một kẻ làm báo tự lo.

Và đó là mối duyên cho tập sách Hội An, lang thang phố nhớ này ra đời.

Ước mong góp lại chút gì mình có, trước khi tiếp tục cuộc hành trình…

– Tam Thái

cao vọng của bọn thanh niên an nam

Cao Vọng Của Bọn Thanh Niên An Nam

"Nước ta cần phải có một nền học thức đứng đắn riêng cho ta, là vì nhiều dân nhờ cái nền tri thức của mình mà giữ được cái danh của mình mãi mãi, được ngoại quốc yêu kỉnh, lắm khi lại được lãnh cái phận sự làm thầy nhơn loại. Một nước được tự chủ mà còn phải nhờ học thức của nước khác thì cũng không được thật tự do. Vả lại, nền tri thức là cái hồn của một đoàn dân, Người mà tinh thần cao thượng thì hưởng được nhiều điều mà bực phàm nhơn không biết nổi, một đoàn dân mà có một nền học thức cao rộng thì được cao hơn các dân ngu dốt. Như vậy thì một đoàn dân muốn sống, muốn tự do, muốn tràng danh trong nhơn loại, cần phải có một nền tri thức riêng cho mình."

kim cổ cách ngôn

Kim Cổ Cách Ngôn

Lương Văn Can nguyên tên là Lương Ngọc Can, tự là Hiếu Liêm và Ôn Như, hiệu Sơn Lão, quê ở thôn Hạ, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội (nay là thành phố Hà Nội). Là một chí sĩ yêu nước, tham gia sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, cụ dành tâm huyết một đời cho việc khơi dậy dân trí và dân khí, nhằm cổ vũ tinh thần tự cường dân tộc và chấn hưng đất nước. Xuất thân khoa bảng, cụ còn tiên phong trong công cuộc cải cách xã hội, với những tư tưởng đột phá về giáo dục, văn hóa. Cụ đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng nền tảng văn hóa và tư tưởng cho thế hệ thanh niên trong thời kỳ đất nước đối mặt với những biến động lớn ở những năm đầu thế kỷ XX.

Tròn một thế kỷ kể từ lần in đầu tiên vào năm 1925, những lời trong "Kim cổ cách ngôn" của Ôn Như Lương Văn Can vẫn ngời chất ngọc, mang những thông điệp hữu ích trao truyền đến các thế hệ tương lai, là kim chỉ nam cho lớp hậu bối, giúp họ vững bước trên hành trình tìm kiếm giá trị nhân tâm bền vững.

sức sống của không gian văn hóa hồ chí minh

Sức Sống Của Không Gian Văn Hóa Hồ Chí Minh

Với tác phẩm "Sức sống của không gian văn hóa Hồ Chí Minh", tác giả Phạm Phương Thảo nói về cái thần, tâm hồn, sức lan tỏa của không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Một số thiết chế không gian văn hóa Hồ Chí Minh được tác giả Phạm Phương Thảo chọn giới thiệu trong hơn gần 5.000 thiết chế này. Mỗi nơi thể hiện tấm lòng, một sự tìm đến sức sống không gian văn hóa Hồ Chí Minh của nơi này Người đã ra đi, không được đón Người trở lại, nhưng được mang tên Người mãi mãi từ ngày 02/7/1976.

Nơi sách này người đọc gặp nhiều, thấy nhiều thiết chế không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Nhưng gần 5.000 thiết chế không gian văn hóa Hồ Chí Minh vẫn còn chưa đủ, sẽ còn phải nhiều hơn nữa, mỗi ngày đều nhiều hơn, sẽ có không gian văn hóa Hồ Chí Minh phi vật thể, loại hình không gian văn hóa Hồ Chí Minh qua mạng, công nghệ thông tin. Và hơn thế nữa, phải tìm đến và gặp trái tim, gặp cái tâm hồn, cái thần của không gian văn hóa Hồ Chí Minh.

phật giáo - trần trọng kim

Phật Giáo

“Đạo Phật chỉ cầu lấy trí tuệ mà hiểu biết, chứ không chủ lấy sự mê hoặc mà làm mờ tối người ta; cho nên chính đạo Phật là đạo chỉ có sự sáng suốt mà không có sự mê tín. Chúng tôi mong rằng ai đã tin theo đạo Phật là người có cái tâm rất sáng suốt, có cái tự do về đường tư tưởng và có cái sức tự cường, tự lập mà xử kỷ tiếp vật. Nếu người mình mà hiểu được như thế và làm được như thế, thì sự tín ngưỡng đạo Phật không có sự làm xằng tin nhảm, và lại rất lợi cho sự tiến hóa của nhân quần xã hội về đường đạo lý và đường tri thức. Ấy là cái sở kiến của chúng tôi, và dám mong rằng cái sở kiến ấy không trái với cái hy vọng chung của tất cả mọi người chúng ta vậy.” (Trần Trọng Kim)

ký ức đông dương (anh - việt - pháp) - bìa cứng

Ký ức Đông Dương: Việt Nam - Campuchia - Lào

Mémoires D’ Indochine: Vietnam - Cambodge - Laos

Memories of Indochina: Vietnam - Cambodia - Laos

 (Bản bìa cứng phổ thông)

Tác giả: Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, Eric Bourdonneau, Philippe Lefailler, Michel Lorillard ; Nguyễn Thị Hiệp dịch tiếng Việt ; David Smith dịch tiếng Anh ; Olivier Tessier biên soạn ; Zac Herman hiệu đính

Ấn bản lần thứ nhất của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) & Nhà xuất bản Magellan & Co, Paris, (Ký ức Việt Nam, 2013; Ký ức Lào,2015; Ký ức Campuchia, 2017) EFEO và Nhà xuất bản Magellan & Co giữ bản quyền.

“Ký ức Đông Dương: Việt Nam - Campuchia - Lào” hoàn thành in ấn vào tháng 6.2020 là bản in đầu tiên có 3 ngôn ngữ Anh - Pháp - Việt được ấn hành bởi sự phối hợp giữa NXB Văn hóa – Văn nghệ TP.HCM và Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Pháp tại Việt Nam sau hơn hai năm bắt tay thực hiện.

* Phần đầu giới thiệu về lịch sử hình thành và những tư liệu quý giá qua thời gian được lưu trữ kỹ lưỡng bởi Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Pháp qua những chuyển biến của lịch sử. Những hình ảnh khắc sâu trong tim, về khoảnh khắc trong quá khứ, xuyên suốt ở ba quốc gia Việt Nam - Campuchia – Lào. Các khung cảnh sẽ xuất hiện trước mắt bạn như… Ký ức Việt Nam: cận cảnh Đông Dương, con người và truyền thống; mỹ thuật và kiến trúc, Phật giáo, lễ hội và nghi thức tôn giáo. Ký ức Campuchia: Khoa học - Mỹ thuật - Chính trị, Đất - Nước, nghi lễ hoàng cung, nhà sư và chùa chiền, thế giới “tách biệt”, khám phá. Ký ức Lào: tự nhiên và văn hóa, con người và thiên nhiên, lễ hội và truyền thống, thực hành Phật giáo. Tổng hợp tương quan về đa sắc tộc…

“Vốn chú trọng lối tường thuật, các nhà nghiên cứu vào cuối thế kỷ thứ 19 thường thích mang theo bên mình một cuốn sổ ghi chép, mặc dù họ cũng đã quen với những bức vẽ kỹ thuật vốn là những hình ảnh duy nhất được chấp nhận in kèm với các bài tạp chí chuyên ngành. Họ mô tả các chi tiết thông qua những ký họa giản lược khi không thể phó thác việc này cho thợ vẽ phụ tá của Viện. Đây quả là một công việc khó khăn vì để vẽ bằng than cần phải có óc quan sát, hoa tay và đặc biệt là phải có thời gian. Việc sử dụng ảnh giúp vượt qua được những trở ngại này đồng thời thoát khỏi các chuẩn mực gò bó của hội họa để thể hiện thực tế với độ chính xác như mong muốn. Các nhà khảo cổ học và dân tộc học của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã rất nhiệt tình ủng hộ và bảo vệ công cụ chụp ảnh mới này vì chuyên ngành mới của họ mang tính kỹ thuật và gắn liền với thực địa (cũng tương tự như các nhà địa lý và địa chất học nhưng với những lý do khác). Ảnh chụp khoảnh khắc cho phép lưu giữ lại một hoạt động, hiện tượng diễn ra trong chốc lát và khôi phục toàn bộ các chi tiết mà mắt thường có thể không ghi nhận kịp. Chẳng hạn như vạt áo bung lên của người H’Mông, một công đoạn khai quật cổ vật bị chôn vùi dưới lòng đất hay một công trình xây dựng của người Chăm có nguy cơ sắp biến mất. Ảnh sao chụp cho phép xếp sang bên cạnh một số chủ đề rồi tiếp tục nghiên cứu nó về sau, quay lại một chi tiết nào đó, so sánh chúng hoặc dùng làm cứ liệu”. - Ký ức Việt Nam - Cận cảnh phương Đông – Viện Viễn Đông Bác cổ pháp ở Việt Nam.

 

“Ba thập kỷ sau khi chuyển kinh đô từ Oudong về Phnom Penh, Phật viện Hoàng gia, chùa Preah Keo, bắt đầu được xây dựng bên cạnh hoàng cung vào năm 1892. Mối quan hệ giữa vua Norodom và chính quyền thuộc địa ngày càng căng thẳng vì chính quyền thuộc địa luôn tìm cách làm suy yếu quyền lực đế vương. Bức tượng vua cưỡi ngựa được dựng trước chùa Phật Ngọc là điểm nhấn, hình ảnh bảo hộ mới của vương triều, thể hiện đức vua mặc đồ chiến binh Pháp, chào kiểu nhà binh, đầu đội mũ lông vũ hai chỏm. Bức tượng này nổi tiếng vì phần thân được coi là của Napoléon III, chỉ thay thế phần đầu của đức vua. Từ khoảng giao thời giữa hai thế kỷ, hoàng gia có cái nhìn thù địch với chế độ Bảo hộ, vua Norodom là “Napoléon nhiệt đới” đang tiến lên, dưới sự bảo hộ của Preah Keo, để lấy lại tự do đã mất”.- Ký ức Campuchia - Nghi lễ hoàng cung

 

“Các bức ảnh là bằng chứng độc đáo làm toát lên cuộc sống êm đềm và giản dị ở Luang Prabang đầu thế kỷ 20. Trong những thập niên hai mươi, ba mươi của thế kỷ 20, các chuyến công tác ở Lào của EFEO rất hiếm khi được thực hiện ngay cả khi Viện vẫn còn rất nổi danh qua những ấn phẩm quan trọng như các nghiên cứu của Charles Robequain (1924-1926) (2), Suzanne Karpelès (1929-1933), Madeleine Colani (từ 1931-1935)(3) và Paul Lévy (1938-1940) hay những cuộc trùng tu của Louis Fombertaux (1929-1935). Những ảnh liệu còn lưu giữ chủ yếu liên quan đến cổ vật thời tiền sử hoặc những chi tiết về kỹ thuật xây dựng. Thời kỳ chuẩn bị và ngay sau đó là thời kỳ độc lập của Lào đi cùng với sự hồi sinh trong hoạt động của EFEO ở nước này. Một trụ sở của Viện được thành lập ở Viêng Chăn năm 1950 và tồn tại đến năm 1966. Henri Deydier (1922-1954) là thành viên phụ trách đầu tiên. Sự ra đi đột ngột do tai nạn khi ông mới 32 tuổi đã

chấm dứt nguyện ước của ông trong việc thực hiện một chương trình nghiên cứu táo bạo về tư liệu trong các tỉnh mà ông nhắm đến. Tuy nhiên, ông cũng đã có thời gian để kịp tập hợp một số dữ liệu thú vị về các bộ tộc người miền Bắc nước Lào. Một số lượng nhỏ ảnh liệu chụp vào năm 1953 và 1954 sau này mới được bổ sung vào các ghi chép thực địa của ông. Pierre-Bernard Lafont (1926-2008) người kế vị ông với tư cách là đại diện của EFEO ở vương quốc Lào sau độc lập đã tiếp tục một số nghiên cứu mà Henri Deydier khởi xướng”. - Ký ức Lào - Tự nhiên và văn hóa

-----

Giới thiệu:

Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Pháp tại Việt Nam: 120 năm - Một lịch sử đồng hành.

Được thành lập ngày 20 tháng 1 năm 1900 tại Sài Gòn, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) có nhiệm vụ thu thập, thống kê, bảo quản và phân tích các yếu tố văn hóa và di sản của lục địa Á châu. Ngay từ buổi sơ khai, chủ yếu là các trí thức Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng qua việc thực hiện các công trình của EFEO. Vốn thuộc tầng lớp trí thức và có kiến thức sâu rộng, họ đã hỗ trợ tích cực cho các đồng nghiệp người Pháp hiểu được văn hóa Việt Nam, và vì vậy, một cách tự nhiên, họ là những người thầy đầu tiên của một số đồng nghiệp Pháp. Lập trụ sở tại Hà Nội năm 1902, EFEO từ đó đến nay trường tồn cùng với thời gian giữa lòng Hà Nội ở nhiều địa điểm và cơ quan khác nhau: Bảo tàng Finot, nơi lưu giữ những bộ sưu tập của EFEO, được xây dựng năm 1926, nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam; Bảo tàng Blanchard de la Brosse nay là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh v.v.

Ngoài ra còn phải kể đến một thư viện lớn của Viện đã được bàn giao cho Viện Thông tin Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Những năm tháng Đông Dương

Ngay sau khi thành lập tại Hà Nội, EFEO đã quan tâm tới các ngành xã hội nhân văn của Việt Nam xưa tỏa sáng bên cạnh văn minh Trung Hoa, từ lưu vực sông Hồng tới dãy Hoành Sơn phía Bắc và tới tận các vùng ở Thanh Hóa. Nguồn tư liệu thành văn dưới mọi hình thức, đặc biệt là thư tịch Hán Nôm đã trở thành tâm điểm của các chương trình bảo tồn và in rập đối với các loại tư liệu dễ bị hư hại nhất. Các nhà nghiên cứu Pháp và Việt Nam đã nghiên cứu với phương pháp khoa học về văn minh thư tịch, văn tự trong đó phải kể đến Nguyễn Văn Tố hay Raymond Deloustal, người đã có công trong việc làm sống dậy một quá khứ hào hùng, khai sáng ngành sử học cũng như nền tảng văn hóa xã hội của Việt Nam hiện đại.

Vào đầu thế kỷ 20, Henri Parmentier đã thể hiện sự quan tâm đối với khảo cổ học Chăm cổ và chính ông là người chỉ đạo những cuộc khai quật ở Mỹ Sơn, Đồng Dương và Chánh Lộ (1902-1904) và đã công bố công trình đồ sộ của mình

“Inventaire descriptif des monuments Cham de l’Annam” [Thống kê khảo tả những di tích Champa ở Trung Kỳ]. Chính từ đà này, ông đã sáng lập Bảo tàng điêu khắc Chăm - Đà Nẵng (1919). Trong những năm 1930, các cuộc khai quật được tiếp tục tại Tháp Mắm và Trà Kiệu dưới sự chỉ đạo của Jean-Yves Claeys.

Những công trình nghiên cứu của Louis Malleret đánh dấu cho một số nghiên cứu được thực hiện ở miền Nam Việt Nam. Sống tại Việt Nam trong một phần tư thế kỷ (1929-1957), chính Louis Malleret phát hiện ra thương điếm là bằng - 6 -chứng vật thể chứng minh sự tồn tại của Vương quốc Phù Nam. Các cuộc khai quật do ông chỉ đạo vào năm 1944 đã khám phá ra nền văn minh Óc Eo và làm nên công trình đồ sộ của ông: Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long.

Song song với việc nghiên cứu thư tịch cổ và các cuộc khai quật khảo cổ, EFEO quan tâm tới các nghiên cứu văn hóa dân gian và di sản phi vật thể nhằm hiểu rõ hơn về không gian và môi trường của một nền văn minh vốn gắn với thực vật.

Làng được đặc biệt quan tâm nghiên cứu vì nó vừa là trung tâm của nền văn minh lúa nước, vừa là biểu tượng cho một quốc gia đa sắc tộc gắn kết trong khu vực Đông Nam Á.

Nhiều cuộc điều tra, khảo sát dân tộc học đầu tiên về các nhóm dân tộc trên bán đảo Đông Dương đã được các nhà nghiên cứu nghiệp dư thông tuệ - các thành viên thông tấn của Viện thực hiện. Có thể kể đến các binh sĩ, giáo viên hay các nhà truyền giáo, như cha Léopold Cadière, người sáng lập Hội Đô Thành Hiếu Cổ và tạp chí mang tên của Hội, những ấn phẩm của ông về tín ngưỡng và cuộc sống thường nhật của người Việt luôn là những tài liệu tham khảo không thể bỏ qua.

Ở EFEO, bộ môn dân tộc học đã được thành lập dưới sự chỉ đạo của Paul Lévy, ông tiếp nhận các chuyên gia về dân tộc học người Việt như Nguyễn Văn Huyên (sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục 1956-1975), Nguyễn Văn Khoan, Trần Văn Giáp, v.v.

Qua các chương trình khảo sát thực địa, họ đã dựng nên bản đồ dân tộc học ngôn ngữ đầu tiên của Đông Dương, hoàn thành vào năm 1941, công bố các cuốn từ điển và tập hợp được một phông ảnh liệu đồ sộ. Về sau còn có sự xuất hiện của những nhà nghiên cứu trẻ như Georges Condominas (1947), nhà ngôn ngữ học Georges Haudricourt (1948) hay cả Jean Boulbet (1966). Tất cả các học giả này đã góp phần tạo nền móng để ngành dân tộc học hiện đại của Việt Nam dựa vào đó để phát triển.

Năm 1957, việc di dời EFEO về Paris đã được thực hiện một cách rất hệ thống, EFEO đã chuyển giao với trách nhiệm cao nhất toàn bộ các khu nhà, bảo tàng và những bộ sưu tập mà EFEO đang sở hữu cho chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Những hoạt động của EFEO ở Việt Nam từ 25 năm nay

Chính sách mở cửa của Việt Nam đã cho phép thành lập một trung tâm EFEO mới tại Hà Nội năm 1993 và sau đó là trung tâm thứ hai tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, nằm trong hệ thống 18 trung tâm tại châu Á.(1)

Tiếp nối truyền thống nghiên cứu về Việt Nam xưa, ngay từ đầu những năm 1990, EFEO đã khởi xướng “Dự án xuất bản Thư mục và Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam” do Philippe Papin điều phối với sự hợp tác của Viện Hán Nôm (VASS). Dự án này đã cho phép xuất bản, bảo tồn 22.000 thác bản văn bia do EFEO in rập từ 1911 đến 1954. Bộ Tổng tập đồ sộ này gồm 22 quyển. Ngoài ra còn có 12 tập thư mục mô tả chi tiết từng tấm bia. Đây chủ yếu là những tư liệu tồn tại từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 ở các làng xã miền Bắc, như văn tự công đức, hợp đồng cung tiến, phong tục tập quán, quy định về chợ búa, về những thỏa ước, giao kèo giúp chúng ta hiểu được cuộc sống thường nhật của nông thôn Việt Nam xưa.

Việc thu thập các bản thảo cổ bằng chữ viết của người Dao cũng đã được thực hiện với cùng một cách tiếp cận như trên để bảo tồn di sản chữ viết. Dự án này do Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Lào Cai, ông Trần Hữu Sơn, Philippe Le Failler (EFEO) và Bradley Davis (Trường Đại học Washington) thực hiện đã cho phép sưu tập được 14.000 văn bản viết tay, trong đó 1.000 văn bản đã được số hóa.

Nhưng giấy viết, dù được thực hiện trên nền chất liệu nào, cũng không phải là hình thức duy nhất được con người sử dụng để ghi lại thực tế cuộc sống hàng ngày hoặc các sự kiện quan trọng. Các hình khắc trên đá ở Sa Pa được tìm thấy ở trên sườn núi khu vực thung lũng thuộc tỉnh biên giới Lào Cai cho đến nay vẫn chưa biết tác giả của chúng là ai cũng như thời điểm ra đời chính xác của các hình khắc chạm này. Ta có thể phân biệt được những nét khắc hình người hoặc hình khắc các đồ vật lao động nông nghiệp thường nhật. Vào năm 2005, EFEO và tỉnh Lào Cai đã quyết định thực hiện việc thống kê có phương pháp các hình khắc đá này và nhờ đó đã ấn hành tập thư mục giới thiệu bãi đá có hình khắc cổ ở huyện Sa Pa và một nghiên cứu phân tích phong cách tranh khắc vào năm 2012.

Một lĩnh vực khác được Viện đặc biệt chú trọng là khảo cổ học. Trong số các chương trình được tiến hành từ 25 năm nay, có thể kể đến dự án nghiên cứu di chỉ khảo cổ Hoàng thành Thăng Long được khởi xướng vào tháng 12 năm 2002 đã huy động nhiều thành viên của Viện tham gia. Cũng chính trên diện tích một vài héc-ta này, trung tâm chính trị của Việt Nam đã được thiết lập từ hơn một thiên niên kỷ trước. Hợp tác khoa học giữa Trung tâm EFEO tại Hà Nội và Viện Khảo cổ đã khởi đầu, cùng với một số chương trình khác, việc thành lập bảo tàng khảo cổ mang tên Bảo tàng Hà Nội - nghìn năm Thăng Long.

Ở miền Trung, có một chương trình nghiên cứu về lịch sử xã hội miền Trung Việt Nam trong mối quan hệ văn hóa giữa Champa với Đại Việt và các dân tộc vùng cao. Năm 2005, việc phát hiện ra Trường lũy ở tỉnh Quảng Ngãi (dài 127km được người Kinh và người H’rê xây dựng vào năm 1819) đã giúp nhìn nhận lại vấn đề đồng nhất giữa các nhóm dân cư khác nhau trong vùng (thế kỷ 15 - thế kỷ 19) và các mối quan hệ trung tâm - ngoại vi.

Nghiên cứu về nông thôn luôn luôn có vị trí đặc biệt trong các công trình nghiên cứu của EFEO. Cần phải nói rằng trong vòng hơn một thế kỷ, những nghiên cứu về người nông dân Việt Nam ở một đất nước thuần nông đã nỗ lực xác định một hình mẫu về “làng truyền thống” được định hình như một không gian khép kín, tự cung tự cấp và có khả năng tự lập tự trị rất cao. Trong một nghiên cứu so sánh đã được triển khai thực hiện trong vòng bốn năm trên bốn ngôi làng thuộc châu thổ sông Hồng, thế giới nông thôn thể hiện một phương diện hoàn toàn khác khi nó được định vị dưới góc độ trao đổi, sự linh động về thiết chế cùng với những biến chuyển về không gian xã hội và chính trị.

Nỗ lực tìm hiểu về xã hội nông thôn Việt Nam đặt ra câu hỏi trọng tâm về mối quan hệ Nhà nước – Địa phương được xem xét dưới góc độ quản lý nước và thủy lợi mà sự hiện diện khắp nơi của nước tạo nên cảnh quan và thấm đẫm văn hóa nhân sinh. Các nghiên cứu đề cập đến quá khứ, qua các phân tích sự thay đổi chính sách thủy lợi của đồng bằng châu thổ sông Hồng (thế kỷ 12 đến thế kỷ 20), cũng như đề cập đến các phương thức hiện tại về quản lý nguồn nước ở lưu vực sông Đồng Nai và ở miền Nam.

Cuối cùng, trước khi kết thúc bài giới thiệu ngắn này, không thể bỏ qua các ấn phẩm của EFEO tại Việt Nam. Ấn phẩm được chia thành hai bộ danh mục (Thư viện Việt Nam và Tư liệu phục vụ cho nghiên cứu Lịch sử: 15 cuốn sách và 7 ấn phẩm điện tử) và bộ sưu tập sách đặc biệt (34 công trình). Từ năm 1993, 6 dự án xuất bản lớn đã được thực hiện trong đó có công trình in bằng ba ngôn ngữ, kèm chú giải tác phẩm của Henri Oger “Technique du Peuple Annamite” [Kỹ thuật của người An Nam], (1909), ấn phẩm trọn bộ “Địa chí thời vua Đồng Khánh” (306 bản đồ in màu) và ấn bản điện tử 120 số của tập san Những người bạn cố đô Huế.

OLIVIER TESSIER (EFEO)

Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Việt Nam: 120 năm - Một lịch sử đồng hành.

hôm nay với nho giáo

Hôm Nay Với Nho Giáo

“Nho giáo được truyền vào nước ta bởi phong kiến nhà Hán xâm lược hồi những năm cuối thế kỷ I trước Công nguyên. Suốt hơn mười thế kỷ lệ thuộc phong kiến phương Bắc, Nho giáo và Nho học đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lãnh vực đời sống con người Việt Nam, trong đó có tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật… Nhưng khi cha ông ta đã giành lại độc lập tự chủ, nghĩa là phong kiến Trung Quốc xâm lược bị nhân dân ta đánh đuổi phải rút chạy về nước, thì Nho giáo và Nho học vẫn còn tồn tại và vẫn tiếp tục truyền bá trên quê hương đất nước chúng ta…

Và cho dù hôm nay, Nho giáo và chế độ giáo dục Nho học không còn tồn tại ở nước ta cũng như ở các nước thuộc khu vực văn hóa chữ Hán trước đây, nhưng những tư tưởng của Nho giáo vẫn lan tỏa ảnh hưởng, vẫn tiềm tàng một sức sống trong tâm lý, trong lối ứng xử của mỗi cá nhân, trong cộng đồng dân cư từ làng xã đến khu phố thị thành…

Nhật Bản, Hàn Quốc, rồi Singapore sở dĩ trở thành những con rồng châu Á vươn cao là nhờ biết tiếp thu rồi vận dụng và phát huy những yếu tố nhập thế tích cực của Nho giáo để phát triển đất nước. Tại xứ sở sản sinh ra Nho giáo cũng vậy, vài chục năm trở lại đây, nhà cầm quyền đã thức tỉnh và đã phát huy thế mạnh này để đưa đất nước trở thành một trong hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thế thì, ai bảo Nho giáo là trì trệ, là cổ hủ, là cản trở bước phát triển xã hội? (trích Lời cuối sách – PGS.TS. Nguyễn Công Lý)

nghệ thuật nói lái qua ngôn ngữ dân gian nam bộ (tái bản 2025)

Nghệ Thuật Nói Lái Qua Ngôn Ngữ Dân Gian Nam Bộ

Lúc còn nhỏ xíu ở vùng đất Bến Tre, tôi đã sống trong thế giới kỳ ảo của nói lái. Những buổi chạy theo đám thả diều lúc vừa lên chín, lên mười, trời nắng chang chang, tư bề gió lộng, tôi đã từng ngẩn tò te với với câu đố của thằng Quỳnh: “Tao đố mầy, đốt rẫy bay tàn là cái gì?”. Tôi nào có biết nó muốn nói gì nên trả lời: “Thì đốt rẫy tàn lửa phải bay chớ có gì đâu mà mầy hỏi?”. Nó áp ngón tay cái vào má, ngoe ngoe ngón tay trỏ, nói giọng bỡn cợt: “Quê một cục, hổng phải như mầy nói đâu. Đốt lửa bay tàn là bàn tay đây nè!”… như mở cờ trong bụng, tôi vui mừng quá cỡ vì thấy mình đã thâm nhập được vào trong một thế giới kỳ lạ tiềm ẩn của cuộc đời thường.

2

Tải PDF tài liệu học tập đang trở thành lựa chọn phổ biến cho sinh viên và người đi làm nhờ tính tiện lợi và tiết kiệm thời gian. Tài liệu PDF cung cấp nhiều nội dung từ sách PDF, tài liệu nghiên cứu, đến giáo trình chuyên ngành, giúp người dùng dễ dàng lưu trữ và truy cập trên các thiết bị số. Việc sử dụng tài liệu PDF không chỉ giúp tăng cường kiến thức mà còn hỗ trợ học tập và làm việc hiệu quả hơn.

YÊU CẦU TÀI LIỆU